vanban.org

Bản án 150/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ các Điều 464, 466, 468 Bộ luật dân sự n m 2015;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà V Th C. Buộc ông Ngô V n P, bà Hu nh nh T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V Th C 20.000.000 hai mươi triệu đồng tiền vốn và 4.700.000 bốn triệu bảy tr m nghìn đồng tiền l i. Tổng cộng 24.700.000 hai mươi bốn triệu bảy tr m nghìn đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà C với ông P, bà T"
  • Tòa quyết gì? C n cứ các Điều 464, 466, 468 Bộ luật dân sự n m 2015;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2018/DS-ST
Ngày: 18-10-2018.
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tới.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Th Ly.

Ông Nguyễn V n Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Th L m – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 10 n m 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 220/2018/TLST-DS ngày 22 tháng 5 n m 2018 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 160/2017/QĐST-DS ngày 31 tháng 8 n m 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà V Th C, sinh n m 1976. Có m t

Cư tr : p T, x B, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Ngô V n P, sinh n m 1979. Có m t

Bà Hu nh nh T, sinh n m 1982. (V ng m t

Cùng cư tr : p T, x B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà V Th C trình bày: Do chỗ quen biết, bà có cho ông P vay tiền 02 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 01/11/2016 âm l ch ông P vay số tiền 20.000.000 đồng.

Lần 2: Ngày 20/12/2016 âm l ch ông P đến nhà vay thêm 10.000.000 đồng. Hai lần vay tiền bà ghi lại và làm chung một biên nhận do ông P ký tên. Khi giao tiền bà trực tiếp giao cho ông P, hai bên có thỏa thuận l i suất là 5%/tháng, ông P chưa đóng l i cho bà. Nay bà yêu cầu ông P, bà T trả số tiền vay còn nợ 30.000.000 ba mươi triệu đồng, yêu cầu tính l i theo quy đ nh pháp luật từ ngày 20/12âl.2016 đến khi Tòa án xét xử.

B đơn ông Ngô V n P trình bày: Ông và bà Hu nh nh T là vợ chồng, có đ ng ký kết hôn, ông có vay tiền của bà C, thời gian vay tiền không nhớ rõ, vay tiền bà C 02 lần tổng cộng số tiền vay 20.000.000 đồng, có làm biên nhận ngày 20/12/2016 với số tiền 10.000.000 đồng còn lần mượn thêm 10.000.000 đồng thì không có làm biên nhận, phần nội dung ghi “20.000.000, 30.000.000, 1/1/16” trong biên nhận bà C cung cấp không phải do ông ghi, chữ ký trong biên nhận do ông ký tên. Hai bên có thỏa thuận l i suất 1.000.000 đồng mỗi ngày ông đóng lãi cho bà C 5.000 đồng, số tiền tiền vay 20.000.000 đồng ông đóng lãi ngày 100.000 đồng, ông đóng l i khoảng 15 ngày với số tiền 1.500.000 đồng, đóng l i không có làm biên nhận và không ai biết việc ông đóng l i cho bà C. Ông vay tiền để tiêu xài cá nhân chứ không có kinh doanh, phụ gi p gia đình, khi vay tiền vợ ông không biết. Nay thừa nhận còn nợ bà C số tiền 20.000.000 đồng xin trả dần tháng 1.000.000 đồng đến khi dứt nợ, còn phần l i do khó kh n xin không trả.

Tại tờ tự khai ngày 31/7/2018 b đơn bà Hu nh nh T trình bày: Bà và ông P là vợ chồng, có đ ng ký kết hôn, số tiền 30.000.000 đồng bà C yêu cầu bà cùng trả với ông P bà không đồng ý. Số tiền này ông P vay để làm gì bà không biết, khi vay tiền ông P không nói với bà, bà C c ng khong cho bà biết.

Tại phiên tòa, bà C v n giữ nguyên yêu cầy khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử ngh án là đ ng với quy đ nh của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

ét thấy, hợp đồng vay tài sản giữa bà C với ông P được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và thể hiện b ng biên nhận nợ do ông P ghi. Ông P cho r ng ông vay tiền của bà C để tiêu xài cá nhân, bà T không biết. Tuy nhiên, ông P và bà T là vợ chồng, nợ phát sinh trong thời k hôn nhân đang tồn tại, nên bà T có nghĩa vụ cùng với ông P trả nợ.

Đối với biên nhận nợ ngày 20/12al/2016 bà C là người giữ bản chính; đồng thời bà c ng thừa nhận có ghi thêm nội dung “20.000.000”, “30.000.000”, “1/1/2016” và số “3” trước dòng chữ “mươi triệu”, bản chính biên nhận nợ do bà C cung cấp cho Tòa án b rách phía trên dòng chữ có nội dung “Mươi triệu”. Nhận thấy, chứng cứ do bà C cung cấp không rõ ràng và số “3” được ghi thêm vào trước dòng chữ “Mươi triệu”, nội dung ghi thêm này không được ông P thừa nhận. M t khác, bà C cho r ng ông P mượn số tiền 20.000.000 đồng vào ngày 01/11al/2016, nhưng trong biên nhận lại ghi 1/1al/2016, cho nên số tiền 20.000.000 đồng ghi trong biên nhận là không có cơ sở. Từ đó, có c n cứ ông P chỉ nợ bà C 20.000.000 đồng.

Về l i suất, do ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà C, nên bà C yêu cầu tính l i theo quy đ nh pháp luật từ ngày 20/12al/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp theo Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Riêng, đối với việc ông P trình bày đ đóng l i được 2.500.000 đồng, bà C thừa nhận có nhận l i 2.400.000 đồng, ông P không đưa ra được chứng cứ chứng minh đ đóng l i 2.500.000 đồng, nên chấp nhận theo lời trình bày của bà C. Tuy nhiên, l i suất các bên thỏa thuận là cao, nên cần điều chỉnh cho phù hợp với quy đ nh của pháp luật.

Việc ông P xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng và không đóng l i, không được bà C đồng ý nên không xem xét.

Từ phân tích trên, đề ngh Hội đồng xét xử c n cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự n m 2015, Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình n m 2014 xem xét quyết đ nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và c n cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

. Bà V Th C khởi kiện ông Ngô V n P, bà Hu nh nh T, ông P, bà T cư tr tại ấp T, xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, c n cứ vào Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đ ng thẩm quyền.

Bà Hu nh nh T đ được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng bà v n v ng m t. C n cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án v n tiến hành xét v ng m t đối với bà Hu nh nh T.

. Giữa bà V Th C với ông Ngô V n P có xác lập hợp đồng vay tài sản, chứng cứ bà C cung cấp cho Tòa án là biên nhận nợ ngày 20/12/2016, vay không thỏa thuận thời hạn, bà C cho r ng l i suất thỏa thuận 3%/tháng, ông P cho r ng l i suất 15%/tháng. Các hợp đồng này được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức x hội, không b lừa dối hay ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, số tiền vay các bên không thống nhất nên phát sinh tranh chấp. Bà C cho r ng ông P còn nợ bà 30.000.000 đồng, ông P không thừa nhận, chỉ thừa nhận còn nợ bà C 20.000.000 đồng.

Biên nhận nợ bà C cung cấp, các đương sự thừa nhận nội dung “Tôi Ngô V n P sinh n m 1979 ấp L, C, AG có mượn bà ch bích Chi 10.000.000 đồng Mười triệu ngày 20/12/2016” và chữ ký, chữ viết họ tên là do ông P ghi. Nội dung “1/1/2016”, số “20.000.000”, “30.000.000” và số 3 trước dòng chữ “Mươi triệu” do bà C ghi thêm.

ét thấy, biên nhận này bà C đ tự ý ghi thêm vào các chữ số 20.000.000, 30.000.000 và số 3 khi chưa được sự đồng ý của ông P, do đó không thể hiện được tính khách quan và tính hợp pháp của chứng cứ nên biên nhận này không có giá tr pháp lý để khẳng đ nh ông P còn nợ bà C 30.000.000 đồng.

Ông P thừa nhận còn nợ bà C 20.000.000 đồng, đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Do ông P đ vi phạm nghĩa vụ nên ông P phải có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền này.

Đối với yêu cầu của bà C yêu cầu bà Hu nh nh T liên đới với ông P trả nợ cho bà. Đây là số nợ phát sinh trong thời k hôn nhân, chi xài trong gia đình, do đó bà T phải có trách nhiệm liên đới với ông P trả nợ là phù hợp điều 27 Luật hôn nhân và gia đình.

. Đối với yêu cầu tính l i theo quy đ nh pháp luật từ ngày 20/12/2016al nh m ngày 17/01/2017dl) đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Ông P cho r ng đ trả l i cho bà C tổng cộng 2.500.000 đồng, bà C chỉ thừa nhận đ nhận l i 2.400.000 đồng. Hợp đồng vay này không thời hạn, các bên thỏa thuận l i suất cao hơn quy đ nh và không có chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử c n cứ vào lời thừa nhận của bà C tại phiên Tòa đối với số tiền l i đ thỏa thuận và đ nhận của ông P để làm cơ sở để cấn trừ.

Các bên xác lập hợp đồng vay tài sản ngày 20/12/2016al thỏa thuận cao hơn quy đ nh tại khoản 1 Điều 468 BLDS nên Hội đồng xét xử điều chỉnh cho phù hợp, tiền l i được tính như sau:

Từ ngày 20/12/2016al ngày 17/01/2017dl đến ngày 18/10/2018dl = 639 ngày.

20.000.000 đồng x 639 ngày x 20%/n m = 7.100.000 đồng.

7.100.000 đồng – 2.400.000 đồng = 4.700.000 đồng.

Từ những cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử buộc ông P, bà T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà C 20.000.000 đồng tiền vốn và 4.700.000 đồng tiền l i là phù hợp Điều 468 Bộ luật dân sự và Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tại phiên tòa, ông P cho r ng hiện nay hoàn cảnh gia đình khó kh n xin trả dần cho bà C mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi dứt nợ và xin không trả phần l i suất. êu cầu này của ông P không được bà C đồng ý nên không có cơ sở đển Hội đồng xét xử xem xét.

. Về án phí, C n cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà V Th C phải ch u án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền không được chấp nhận. Ông Ngô V n P, bà Hu nh nh T phải ch u án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bà C được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ các Điều 464, 466, 468 Bộ luật dân sự n m 2015;

Điều 26, 35, 39, 92, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình.

Điều 27 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà V Th C.

- Buộc ông Ngô V n P, bà Hu nh nh T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V Th C 20.000.000 hai mươi triệu đồng tiền vốn và 4.700.000 bốn triệu bảy tr m nghìn đồng tiền l i. Tổng cộng 24.700.000 hai mươi bốn triệu bảy tr m nghìn đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V Th C đối với yêu cầu ông Ngô V n P và bà Hu nh nh T liên đới trả cho bà 10.000.000 mười triệu đồng tiền vốn.

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Ngô V n P, bà Hu nh Th T liên đới ch u 1.235.000 một triệu hai tr m ba mươi l m nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà V Th C phải ch u 500.000 n m tr m nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đ nộp 750.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019674 ngày 22/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang. Bà V Th C được nhận lại 250.000 hai tr m n m mươi nghìn đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết đ nh có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết đ nh thi hành án ho c kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 bộ luật Dân sự n m 2015.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự v ng m t tại phiên tòa ho c không có m t khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án ho c được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ