- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân T bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2018/HS-ST Ngày 26/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Duy Thịnh
Ông Dương Quý Sáng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Dần – Thư ký
Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở UBND xã Long Phúc, huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2018/HSST, ngày 24/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Xuân T (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 24/3/1984 tại Yên Bái.
Nơi cư trú: thôn 9, xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hải Yến và bà Đặng Thị Nga; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/12/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày 20/12/2007 về tội “Đánh bạc” bị cáo đã chấp hành xong bản án nên đã được xóa án tích; ngày 29/3/2012 bị Công an phường Thịnh Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 14/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng do chuyển biến tình hình nên được miễn trách nhiệm hình sự; ngày 04/10/2016 bị Công an phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/3/2018, bị tạm giam từ ngày 31/3/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 28/3/2018, Lê Xuân T đi sang nhà em gái là Lê
Thị Thanh Bình, cùng trú tại thôn 9, xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái mượn xe mô tô HONDA Wave 110 màu xanh đen BKS 29H9 – 7682 (chủ sở hữu xe là anh Bùi Huy Hiếu, chồng chị Bình) rồi chở chị Nguyễn Thị Chúc trú cùng thôn đi lên Cơ sở điều trị 3 trong 1 Bệnh viện đa khoa huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai để uống Methadone hỗ trợ cai nghiện. Lên đến nơi, Trường vào trong uống thuốc còn Chúc đứng đợi ở cổng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Trường uống thuốc xong thì vẫn thấy thèm ma túy nên đã nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng. Lê Xuân T liền dùng điện thoại gọi điện cho một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ ở huyện Văn Bàn (trước đó khoảng hai, ba ngày Trường đã từng mua ma túy của người này và xin được số điện thoại), Trường hỏi: “Cô ơi, cháu lên cô để cho cháu mấy phân nhé”, ý Trường là hỏi mua ma túy, người phụ nữ trả lời “Ừ cháu lên đi”. Trường tắt máy rồi ra ngoài cổng nơi Chúc đứng đợi và rủ Chúc đi lễ đền Bảo Hà, Chúc đồng ý. Trường liền chở Chúc đi theo quốc lộ 279 hướng ra xã Bảo Hà. Khi đến xã Bảo Hà, người phụ nữ bán ma túy gọi lại cho Trường hỏi “Cháu lên đến nơi chưa”, Trường đáp “Cháu lên đến nơi rồi” rồi tắt máy và cùng Chúc đi vào lễ đền Bảo Hà. Sau khi lễ xong, Trường điều khiển xe mô tô chở Chúc đi qua cầu Tân An sang địa phận huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, khi đến khu vực cầu chui cao tốc Nội Bài – Lào Cai thì thấy người phụ nữ cao khoảng 1m55 là người lần trước đã bán ma túy cho Trường đứng gần đó. Lúc này, Chúc bảo Trường dừng xe lại để đi vệ sinh, Trường nói “Anh xuống gặp bà cô một tí” và Chúc đồng ý. Trường một mình điều khiển xe mô tô đến gần người phụ nữ đó rồi dừng lại. Người phụ nữ nhận ra Trường nên nói “Đi xuống đây”. Lê Xuân T đi bộ theo người phụ nữ đến gần bờ suối, người đó hỏi “Lấy bao nhiêu”,Trường nói “Bán cho cháu ba triệu.” Người phụ nữ gật đầu đồng ý rồi lấy từ trong người ra 01 gói nhỏ nilon màu đen được quấn bằng dây nịt màu vàng, bên trong có 03 gói nhỏ nilon màu đen có chứa chất bột khô vón cục màu trắng là ma túy. Trường lấy từ trong người 3.000.000đ (Ba triệu đồng) đưa cho người phụ nữ và cầm gói ma túy đút vào túi áo bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ lên chỗ để xe. Lên đến gầm cầu chui, Chúc đã đứng đợi sẵn cạnh xe mô tô, Trường liền chở Chúc đi về nhà, khi đi đến địa phận bản 4, xã Long Phúc, huyện Bảo Yên thì gặp tổ công tác Công an huyện Bảo Yên đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra. Biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Trường đã tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua được cho tổ công tác của Công an huyện Bảo Yên.
Ngày 28/3/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Yên đã ra
Quyết định trưng cầu giám định đối với 03 gói nhỏ nilon màu đen có chứa chất bột khô vón cục màu trắng thu giữ của Lê Xuân T.
Tại kết luận giám định số 69/GĐMT ngày 30/3/2018 của Phòng KTHS
Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 03 gói chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Lê Xuân T ngày 28/3/2018 có khối lượng 11,34 gam là Heroine (Hêrôin).
Bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 23/5/2018 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Bảo Yên đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 khoản 2 điểm g Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ ma
túy của mình như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và bản cáo trạng viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên giữ quyền công tố
luận tội và tranh luận tại phiên tòa. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; tuyên xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật. Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập và tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Bảo
Yên, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra huyện Bảo Yên, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về xác định tội phạm và áp dụng pháp luật: Sáng ngày 28/3/2018,
Lê Xuân T mượn xe mô tô của anh Bùi Huy Hiếu chở chị Nguyễn Thị Chúc đi lên Bệnh viện đa khoa huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai để uống Methadone hỗ trợ cai nghiện. Lên đến nơi, Trường vào trong uống thuốc còn Chúc đứng đợi ở cổng, uống thuốc xong Trường vẫn thấy thèm ma túy nên gọi điện cho một người phụ nữ để hỏi mua ma túy, sau đó Trường rủ Chúc đi lễ đền Bảo Hà, Chúc đồng ý. Sau khi lễ xong, Trường điều khiển xe mô tô chở Chúc đến khu vực cầu chui cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Tại đây Trường hỏi mua ma túy của người phụ nữ với giá ba triệu đồng, người đó đưa cho Trường 01 gói nhỏ nilon màu đen được quấn bằng dây nịt màu vàng, bên trong có 03 gói nhỏ nilon màu đen có chứa chất bột khô vón cục màu trắng Trường cầm gói ma túy đút vào túi áo bên phải đang mặc trên người rồi chở Chúc đi về nhà, khi đi đến địa phận bản 4, xã Long Phúc, huyện Bảo Yên thì gặp tổ công tác Công an huyện Bảo Yên đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra. Biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Trường đã tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua được cho tổ công tác của Công an huyện Bảo Yên. Tại kết luận giám định số 69/GĐMT ngày 30/3/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 03 gói chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Lê Xuân T ngày 28/3/2018 có khối lượng 11,34 gam là Hêrôin.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai
của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của người chứng kiến cũng như các lời khai khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Xuân T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố đối với bị cáo Lê Xuân T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhận thức rất rõ về rõ tác hại của ma túy và chế độ độc quyền, thống nhất quản lý chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Hêrôin) với trọng lượng (khối lượng) 11,34 gam để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của chính bản thân bị cáo, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy và có nhân thân xấu, thể hiện như sau: Ngày 20/12/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày 20/12/2007 về tội “Đánh bạc” bị cáo đã chấp hành xong bản án nên đã được xóa án tích; ngày 29/3/2012 bị Công an phường Thịnh Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 14/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng do chuyển biến tình hình nên được miễn trách nhiệm hình sự; ngày 04/10/2016 bị Công an phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Sau những lần tòa án xét xử và bị xử phạt hành chính như trên bị cáo Trường không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, vì vậy Tòa xét thấy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ
thành khẩn khai nhận tội; ngoài ra, cha đẻ bị cáo là ông Lê Hải Yến đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Trường còn có
thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Nhưng do bị cáo không có công việc, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc xử lý vật chứng: Đối với 03 gói nhỏ Hêrôin có khối lượng
là 11,34 gam, cơ quan giám định đã tiến hành giám định và lưu mẫu không hoàn lại 0,47 gam và hoàn lại 10,87 gam cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu trắng bị cáo dùng để liên hệ mua ma túy cần tịch thu suy quỹ Nhà nước; Đối với 01 xe mô tô HONDA Wave 110 màu xanh đen BKS 29H9 – 7682, quá trình điều tra chủ sở hữu là anh Bùi Duy Hiếu không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Bùi Huy Hiếu là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, còn có chị Nguyễn Thị Chúc là người đi cùng bị cáo
nhưng do không biết việc bị cáo mua và tàng trữ ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp. Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Lê Xuân T do chưa làm rõ được thông tin nên Công an huyện Bảo Yên tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Xuân T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 28/3/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật
hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 10,87 gam Hêrôin được niêm phong trong bì thư in
sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của phong bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Lê Xuân T có hành vi phạm tội về ma túy”. Phát hiện (thu giữ) ngày 28/3/2018 tại bản 4, xã Long Phúc, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai”.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA
màu trắng, kiểu máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong của máy.
(Các vật chứng trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản
ngày 24/5/2018 giữa Công an huyện Bảo Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng
hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo Lê Xuân T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm..
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo Lê Xuân T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Yên; - Công an huyện Bảo Yên; - Chi cục THADS huyện Bảo Yên; - Cơ quan THAHS huyện Bảo Yên; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ; tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Tùng |