- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn văn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2026/HS - ST Ngày 14/01/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dương Văn Xuyên;
Bà Nguyễn Thị Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 320/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 330/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm: 1992 tại Hà Nội; căn cước công dân số: 001092013427; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Cụm 4, xã Hồng Vân, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Hoành và bà Nguyễn Thị Thơm (đã chết); có vợ là: Đặng Thị Hoài và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013); tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn H T, sinh năm 1991. (Có mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Lý Hải, xã Lãng, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Phòng 3428, KĐT Linh Đàm, phường H Liệt, thành phố Hà Nội.
2. Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1983. (Vắng mặt).
Trú tại: thôn Mai Hiên, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội.
3. Anh Chử Đình T, sinh năm 1978. (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn Lộc Hà, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội.
4.Anh Hoàng Quang M, sinh ngày 04/7/2009. (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Trọng B, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 27/4/2025, H Quang M (sinh ngày 04/7/2009 – 15 tuổi 09 tháng 23 ngày, Trú tại: thôn Bạch Đ, xã Tiến T, thành phố H) đi từ thị trấn Chi Đông, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội (nay là xã Quang M, thành phố Hà Nội) đến khu vực thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (nay là thôn Lộc Hà, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội) tìm kiếm người dân có sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp. M đi bộ vào thôn Lộc Hà, xã Đông Anh phát hiện chiếc xe đạp mini màu xanh của anh Chử Đình T (sinh năm 1978; Trú tại: thôn Lộc Hà, xã Đông Anh) để cạnh nhà nên đã trộm cắp chiếc xe trên. M sử dụng chiếc xe đạp dùng làm phương tiện di chuyển để trộm cắp tài sản. Khi M đi đến khu vực nhà chị Nguyễn Thị Thu H1 (sinh năm 1983; trú tại: thôn Mai Hiên, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội) thì phát hiện trong sân có để nhiều xe môtô. M để xe đạp bên ngoài đường gần nhà chị Hà, rồi trèo tường đột nhập vào trong nhà chị Hà. Khi vào nhà, M thấy trên tường ngăn cầu thang lối lên tầng 2 có một túi xách màu đen, kiểm tra thấy bên trong có tiền và 01 chùm chìa khóa nên cầm túi xách đi ra ngoài. M sử dụng chùm chìa khóa lấy trong túi, thử mở ổ khóa điện xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode màu bạc đen, gắn BKS: 29S1 – 685.93 thì mở được. M cầm chùm chìa khóa mở khóa ra mở khóa cổng và dắt xe máy ra ngoài, nổ máy tẩu thoát. Trên đường tẩu thoát, M dừng xe ven đường (không nhớ vị trí) dùng cờ lê (đã chuẩn bị trước) tháo BKS: 29S1 – 685.93 đồng thời trà tẩy xóa số máy của xe, rồi vứt bỏ chiếc cà lê và BKS: 29S1 – 685.93 ven đường. M tiếp tục điều khiển xe tẩu thoát, khi đi đến bãi rác thuộc cánh đồng thôn Thụy Hà, xã Phúc Thịnh, thành phố Hà Nội thì dừng lại, kiểm tra thấy có 800.000 đồng trong chiếc túi xách lấy trộm của chị Hà, M lấy tiền và vứt chiếc túi tại bãi rác. Sau đó, M điều khiển xe đến quán Internet THN Cyber game của anh Nguyễn Tuấn Duy (sinh năm 1994; trú tại: thôn Thụy Hương, xã Nội Bài, thành phố Hà Nội) có địa chỉ: số 46A, quốc lộ 2 thôn Tân Trại, xã Nội Bài, thành phố Hà Nội cất giấu và vào chơi game tại quán.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/4/2025, M sử dụng facebook của mình “M Quang” vào hội nhóm “mua bán xe KGT” đăng bài bán xe môtô nhãn hiệu Honda SH mode vừa trộm cắp được thì có Nguyễn Văn H sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn M H” nhắn tin hỏi mua xe. M nói với H “xe không giấy tờ, không BKS” và gửi hình ảnh chiếc xe cho H xem và cả hai bên thỏa thuận mua bán chiếc xe trên với giá 9.200.000 đồng và hẹn giao dịch tại quán Internet THN Cyber game, H nhận thức được xe không giấy tờ, không BKS là xe do người khác phạm tội mà có nhưng vì giá xe rẻ hơn so với thị trường nên vẫn đồng ý mua. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H đến gặp M tại quán game. Tại đây, M nhờ anh Nguyễn Anh Duy (sinh năm 2004; trú tại: thôn 25, xã Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) nhân viên quán dắt hộ chiếc xe môtô trộm cắp của chị H1 ra ngoài cửa quán cho H xem xe. Sau khi xem xong, H đồng ý mua, H đưa cho M 200.000 đồng tiền mặt và sử dụng số tài khoản 698667899999 mở tại ngân hàng MB Bank mang tên H chuyển khoản vào số tài khoản 5605092004 mở tại ngân hàng Techcombank mang tên Nguyễn Anh D theo yêu cầu của M (M không có tài khoản nên đã nhờ số tài khoản của Nguyễn Anh Duy để giao dịch).
Sau khi nhận được tiền, H điều khiển xe đi về, M bảo anh Nguyễn Anh D chuyển số tiền 6.000.000 đồng vào tài khoản số 19035794315026 mở tại Techcombank của anh Tạ Hồng Ng (sinh năm 2000; trú tại: thôn Thụy H, xã Nội B, thành phố H) để trả nợ tiền vay và tiền chơi game, chuyển tiếp 3.000.000 đồng vào tài khoản 899992501 mở tại Mbbank của anh Lê Tuấn Kiệt (sinh ngày 21/01/2009; trú tại: Bạch Đa, xã Tiến Thắng, thành phố Hà Nội), anh Duy đồng ý và thực hiện theo yêu cầu của M. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, M đến gặp Kiệt tại thôn Bạch Đa, xã Tiến Thắng lấy số tiền 8.000.000 đồng tiền mặt đã chuyển khoản cho Kiệt và sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi mua được xe, H đem chiếc xe mô tô trên về và lắp BKS: 29S (không nhớ các số còn lại – chiếc BKS trên do H nhặt bãi rác gần nhà khoảng tháng 3/2025) nhằm tránh bị lực lượng chức năng kiểm tra khi lưu thông trên đường. H biết xe trên do M phạm tội mà có, nên sau khi mua được xe, H sử dụng tài khoản Facebook tên “H Hiếu” đăng bán chiếc xe trên trên hội nhóm “mua bán xe KGT”, mục đích là để hưởng chênh lệch từ tiền bán xe. Khoảng 18 giờ ngày 27/4/025, anh Nguyễn H T (sinh năm 1991; trú tại: Lý Hải, xã Xuân L, tỉnh Phú T – Chỗ ở: Phòng 3428, KĐT Linh Đ, phường Hoàng L, thành phố H) thấy bài đăng bán xe của H nên hỏi mua. Hai bên thỏa thuận mua bán xe với giá 13.000.000 đồng và hẹn giao dịch tại khu vực T tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên địa chỉ thuộc xã Nam Phù, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H và anh T đến điểm hẹn và tiến hành xem xe. Sau khi xem xe xong anh T có hỏi H nguồn gốc xe và giấy tờ xe thì H nói dối xe khách cầm cố, giấy tờ để quên ở nhà, sẽ đưa sau. Anh T tin tưởng nên đã đồng ý mua xe. Anh T sử dụng số tài khoản 209988888888 mở tại Techcombank của mình chuyển số tiền 13.000.000 đồng vào tài khoản số 9396986678 mở tại Vietcombank của H. Giao dịch xong, H đi về và hưởng lợi 3.800.000 đồng. Anh T điều khiển xe mô tô về nhà thì phát hiện bị rơi BKS: 29S nên quay lại tìm nhưng không thấy. Đến ngày 28/4/2025, anh T thấy xe có nhiều vết xước nên đã đem ra cửa hàng sửa chữa xe môtô tại phố Định Công, thành phố Hà Nội để dán lại đề can xe cho mới hơn và sử dụng phương tiện đi lại cho đến ngày 22/5/2025, thì bị Cơ quan Công an tạm giữ, lúc này anh T mới biết chiếc xe trên là tài sản của một vụ trộm cắp.
Ngày 28/4/2025, chị Nguyễn Thị Thu H1 và ngày 29/4/2025 ông Chử Đình T đến Công an xã Mai Lâm (nay là Công an xã Đông Anh, thành phố Hà Nội) trình báo sự việc.
Ngày 05/5/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh ra Kết luận định giá tài sản số 58/HĐĐGTS kết luận trị giá tài sản H Quang M chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thu H1 và ông Chử Đình T trị giá 34.750.000 đồng. Tổng trị giá tài sản M đã chiếm đoạt (bao gồm 800.000 đồng tiền mặt của chị Hà) là 35.550.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra H Quang M khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Cơ quan điều tra đã tiến hành mở rộng điều tra, xác định M còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác cụ thể:
Vụ 1: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 25/4/2025, M có hành vi đột nhập vào nhà chị Dương Thị Hương Trang (sinh năm 1989; trú tại: thôn Mạch Tràng, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội) trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu xanh-đen, gắn BKS: 29AG-06602; 01 túi xách vải màu đen kích thước (20x20)cm; 01 ví giả da màu xám kích thước (10x20)cm; 02 chiếc nhẫn vàng loại 18K (trong đó 01 chiếc nhẫn 0,5 chỉ và 01 chiếc nhẫn 0,5 chỉ). Tổng trị giá tài sản M chiếm đoạt của chị Trang 54.590.000 đồng.
Vụ 2: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 28/4/2025, M chó hành vi đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị Hồng Thắm (sinh năm 1986; trú tại: thôn Gia Lương, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội) trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ-đen; gắn BKS: 29V1-0993. Trị giá tài sản M chiếm đoạt của chị Thắm 5.000.000 đồng.
Do đó xác định, từ ngày 25/4/2025 đến 28/4/2025, M đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt trị của các bị hại là chị Dương Thị Hương Trang, chị Nguyễn Thị Hồng Thắm, chị Nguyễn Thị Thu H1 và ông Chử Đình T là 95.140.000 đồng. Tại thời điểm phạm tội H Quang M 15 tuổi 09 tháng 21 ngày, áp dụng khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, xác định M chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội chuyển các tài liệu liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của M chuyển cho Công an xã Kim Hoa lập hồ sơ đưa M đi trường giáo dưỡng. Ngày 12/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng số 25/2025/QĐ-TA đối với H Quang M thời hạn 18 tháng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 167/CT - VKS ngày 16/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả lại cho anh H Quang T số tiền 13.000.000đ.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Galaxy, màu bạc (kèm theo sim) thu giữ của Nguyễn Văn H. Truy thu của H Quang M số tiền 9.200.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
Về hành vi phạm tội của bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội truy tố: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 27/4/2025, H Quang M có hành vi Trộm cắp tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu bạc đen, gắn BKS: 29S1 – 685.93 của chị Nguyễn Thị Thu H1 tại thôn Mai Hiên, xã Đông Anh, thành phố Hà Nội rồi bán cho Nguyễn Văn H với giá 9.200.000 đồng tại quán Internet THN Cyber game có địa chỉ: số 46A, quốc lộ 2 thôn Tân Trại, xã Nội Bài, thành phố Hà Nội. Nguyễn Văn H biết rõ tài sản do H Quang M phạm tội mà có nhưng vẫn mua vì giá xe rẻ hơn so với giá thị trường, bán lại cho người khác để hưởng lợi chênh lệch từ việc bán xe. Trị giá tài sản H tiêu thụ là 34.500.000đ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 của Điều 323 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
Điều 323: Tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
“1. Người nào không hứa hẹn trước mà tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội truy tố Nguyễn Văn H về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, hám lời nên đã gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự quy định để có một mức hình phạt phù hợp.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và đấu tranh phòng ngừa.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu H1, ông Chử Đình T không đề nghị gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Đối với anh Nguyễn H T có mua xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode của Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định anh T không biết chiếc xe trên là tài sản do phạm tội mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với anh T về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Anh Nguyễn H T đề nghị H phải trả lại số tiền 13.000.000 đồng đã mua xe của H. Xét thấy, việc anh T mua xe của H không biết tài sản do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo trả lại cho anh T số tiền này.
Đối với số tiền 9.200.000 đồng H Quang M có được do bán chiếc xe trộm cắp được cho H cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với các anh Lê Tuấn Kiệt, Nguyễn Anh Duy, Tạ Hồng Ngọc có nhận và chuyển tiền giúp Nguyễn Quang M thông qua tài khoản của mình khi mua bán xe môtô nhưng không biết số tiền M nhờ chuyển là tiền bán xe trộm cắp và cũng không được M chia cho tiền. Do đó, cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu SH mode, màu hồng không đeo BKS, số khung RLHJF5132GZ215281, số máy F51E - 0831078. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu H1. Ngày 08/8/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho chị Hà. Chị Hà đã nhận lại không yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự liên quan đến chiếc xe, không yêu cầu Nguyễn Quang M phải bồi thường số tiền 800.000 đồng và trị giá chiếc túi xách đã chiếm đoạt của chị Hà, đề nghị xử lý M theo quy định của pháp luật.
Đối với xe đạp mini màu xanh, trên khung xe có dán tem chữ “PATIGO” màu trắng, chữ “BOX” màu vàng. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Chử Đình T. Ngày 08/8/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe trên cho ông Thanh. Ông Thanh đã nhận xe và không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự, đề nghị xử lý M theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc cà lê M sử dụng để tháo BKS: 29S1 – 685.93, sử dụng tẩy xóa số máy của xe môtô trộm cắp của chị Hà. Quá trình điều tra M khai không nhớ vị trí tháo biển, vứt biển số xe và cà lê nên Cơ quan điều tra không làm rõ được nên không truy tìm được vật chứng vụ án
Đối với chiếc túi xách của chị Nguyễn Thị Thu H1, M vứt tại thôn Thụy Hà, xã Phúc Thịnh, thành phố Hà Nội là tang vật của vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hà Nội đã dẫn giải đối tượng M để truy tìm nhưng không truy tìm được.
Đối với chiếc điện thoại di động Galaxy, màu bạc gắn sim số 0396986678 là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 02 USB bên trong có lưu giữ video liên quan đến vụ án tạm giữ của anh Nguyễn Tuấn Duy và chị Nguyễn Thị Thu H1 xác định là vật chứng vụ án, kèm theo hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn văn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã xã Hồng Vân, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Galaxy, màu bạc gắn sim số 0396986678. (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/12/2025 giữa Công an thành phố Hà Nội và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 – Hà Nội).
Buộc bị cáo phải trả lại anh Nguyễn H T số tiền 13.000.000đ. Xác nhận bị cáo đã nộp 13.000.000đ tại cơ quan điều tra để trả lại cho anh T (Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 12/12/2025). Truy thu của Hoàng Quang M số tiền 9.200.000 đồng.
4.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND Khu vực 7, Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7, Hà à Nội; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tùng |