vanban.org

Bản án 15/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 18/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bạch Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda dán tem Click, biển kiểm soát 65GA- 062.97, số khung MH1JM511XJK153496, số máy không rõ, màu đỏ đen, xe đã qua sử dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bạch Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2026/HS-ST
Ngày: 18 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Cẩm Bình

2. Ông Nguyễn Văn Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoài Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Bạch Thanh L, sinh ngày 19/12/1999; tại xã T, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ; Căn cước công dân: 092099001204; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Thanh T và bà Trần Thị B; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/9/2025 đến ngày 19/9/2025 chuyển sang tạm giam. Ngày 09/01/2026 bị cáo thực hiện hành vi trốn đi khỏi nơi giam giữ và bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh A theo Lệnh tạm giam số 47/LTG-VPCQCSĐT ngày 10/01/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 10/9/2025 lực lượng Công an xã T, tỉnh An Giang tuần tra trên địa bàn ấp T, xã T, tỉnh An Giang. Quá trình tuần tra phát hiện Bạch Thanh L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda dán tem Click, biển kiểm soát 65GA-062.97, chở theo người phụ nữ (chưa xác định nhân thân) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra xe mô tô có 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh cài viền đỏ, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn không đồng nhất, nghi là chất ma tuý nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ Bạch Thanh L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Vật chứng trong vụ án thu giữ được gồm:

- 01 (một) bịch nylon trong suốt có rảnh cài viền màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm, bên trong có chứa các tinh thể rắn không đồng nhất, là chất ma túy loại Methamphetamine.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda dán tem Click, biển kiểm soát 65GA-062.97, số khung MH1JM511XJK153496, số máy không rõ, màu đỏ đen, xe đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 607/KL-KTHS, ngày 17 tháng 9 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh A kết luận: “Mẫu ký hiệu M gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamin. Khối lượng gửi giám định là 9,5711 gam”.

Ngày 19/9/2025, trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Bạch Thanh L.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSKV5, ngày 30/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang đã truy tố bị cáo Bạch Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bạch Thanh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Kiểm sát viên luận tội căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025, xử phạt bị cáo L từ 05 đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda dán tem Click, biển kiểm soát 65GA-062.97, số khung MH1JM511XJK153496, số máy không rõ, màu đỏ đen, xe đã qua sử dụng.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rảnh cài viền màu đỏ, kích thước 04cm x 07cm, bên trong có chứa các tinh thể rắn không đồng nhất, là chất ma túy loại Methamphetamine.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có thu nhập ổn định đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ đi cùng và người tên Đ cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định phù hợp với người chứng kiến. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 13 giờ 40 phút, ngày 10 tháng 9 năm 2025, bị cáo L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kết luận giám định là 9,5711 gam ma túy loại Methamphetamine, với mục đích để bị cáo sử dụng.

Từ các căn cứ trên đủ cơ sở để truy tố bị cáo L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi sổ sung năm 2017, năm 2025 như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo L đã từng sử dụng ma tuý và tiếp tục mua ma túy để sử dụng và bị bắt quả tang. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội. Đồng thời, ma túy còn là mầm móng, nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác và còn tiếp tay, tạo điều kiện cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế và sức khỏe của cộng đồng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục, cải tạo bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành công dân tốt và góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, nhưng xét thấy các bị cáo L tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, không có mục đích vụ lợi và hiện nay không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda dán tem Click, biển kiểm soát 65GA- 062.97, số khung MH1JM511XJK153496, số máy không rõ, màu đỏ đen, xe đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phòng bì màu trắng ký hiệu số vụ 1593/2025, có chứ ký giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Cao Minh Đ1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sựn Công an tỉnh A.

Đối với người phụ nữ đi cùng và người tên Đ Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Lên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 106; Điều 260, khoản 1 Điều 268; Khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 292, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Bạch Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 xử phạt bị cáo Bạch Thanh L 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án nhưng khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2025 đến ngày 09/01/2026.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda dán tem Click, biển kiểm soát 65GA- 062.97, số khung MH1JM511XJK153496, số máy không rõ, màu đỏ đen, xe đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phòng bì màu trắng ký hiệu số vụ 1593/2025, có chứ ký giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Cao Minh Đ1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS, ngày 30/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - An Giang).

3. Về án phí: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bạch Thanh Lên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/3/2026).

Cỡ chữ