- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Giang phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – AN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2026/HS-ST Ngày 04-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, TỈNH AN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hải Anh
Ông Nguyễn Thành Thái
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- An G tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2026, Tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An G, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 06/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2026, về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn G (ĐV), sinh ngày 12/7/1998; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: ấp HA, xã TL, tỉnh AG; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1973 và bà Hồ Thị L, sinh năm 1972; Vợ Đỗ Thị Kiều O, sinh năm 1995 (đã ly hôn); Con 01 người con, sinh năm 2020.
Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Giồng Riềng cơ sở 3, tỉnh An G.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
Nguyễn Văn G đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Công an tỉnh An G theo Quyết định số 01/QĐ – TA ngày 02/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên G từ ngày 20/11/2024.
Vào khoảng 14 giờ ngày 05/10/2025, tại Cơ sở cai nghiện cơ sở 2 có nhiều học viên gây rối, phá cổng đi ra ngoài. Lúc này, thấy có nhiều học viên đi xuống sân, có người hô to “ai muốn đi về thì về”, nghe vậy, G cũng đi ra khỏi cơ sở để về nhà ở ấp HA, xã TL, tỉnh AG. Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, G về đến nhà, thay quần áo, lấy xe máy của gia đình đi ra chợ Rạch Sỏi tìm người tên Thảo mua 100.000 đồng ma túy để về sử dụng. Sau đó, G chạy xe về nhà rồi đi bộ đến trại nuôi dê của gia đình cách nhà khoảng 01 km, lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy (cất giấu sẳn tại đây) để sử dụng. Sau khi sử dụng xong, G trốn lại tại đây. Đến khoảng 08 giờ ngày 07/10/2025, G đi bộ về nhà, lúc này Công an đến và đưa G quay lại Cơ sở cai nghiện. Đến ngày 08/10/2025, lực lượng Công an tiến hành test nhanh ma túy đối với G, kết quả là dương tính. Sau đó, lấy mẫu nước tiểu niêm phong để trưng cầu giám định. G thừa nhận đã sử dụng ma túy vào ngày 06/10/2025.
* Tại Bản kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 13/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận: Mẫu ký hiệu M gửi giám định có chứa thành phần chất ma tuý, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Việc thu giữ, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành lấy mẫu nước tiểu của G để trưng cầu giám định. Mẫu vật đã dùng hết trong quá trình giám định.
Đối với dụng cụ G dùng để sử dụng ma tuý, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.
Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKSKV3 ngày 12/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh An G đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh An G vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, tỉnh An G.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản kiểm tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Bị cáo Nguyễn Văn G là người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện cơ sở 2, Công an tỉnh An G, vào ngày 06/10/2025, sau khi trốn khỏi cơ sở cai nghiện, G đã tìm mua ma túy về sử dụng trái phép chất ma túy tại trại nuôi dê của gia đình thuộc ấp HA, xã TL, tỉnh AG. Sau đó, Công an đến và đưa G quay lại Cơ sở cai nghiện và tiến hành test nhanh ma túy đối với G. Qua giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu của G, kết quả có chứa thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 truy tố bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại nguy hiểm cho sức khoẻ của con người và cũng là nguyên nhân phát sinh ra các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo là người đang trong quá trình chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng lại bỏ trốn và lại tiếp tục ma ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo còn thể hiện thái độ xem thường pháp luật và làm gia tăng các tệ nạn xã hội trên địa bàn tại địa phương nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
4.1 Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
4.2 Xét về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmn hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi lượng hình là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
[6] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G, 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/11/2025.
3. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An G; - VKSND Khu vực 3 - An G - Cơ quan CS Điều tra Công an tỉnh An G; - Phòng THADS Khu vực 3- An G; - Phân trại tạm giam KV Giồng Riềng, CS 3 Công an tỉnh An G; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa Mai Tấn Đẩu |