vanban.org

Bản án 15/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Duy M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đỗ Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Diều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine được hoàn trả sau giám định gồm: mẫu giám định ký hiệu T1 có khối lượng 0,2188 gam, ký hiệu T2 có khối lượng 0,2308 gam; ký hiệu M1 có khối …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Duy M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", Đỗ Văn X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - mua bán trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Duy M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đỗ Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- NINH BÌNH
Bản án số: 15/2026/HS - ST
Ngày: 12/03/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ X Tuấn; bà Nguyễn Thị Hoan

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2026/TLST - HS, ngày 11/02/2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2026/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Bùi Duy M, sinh ngày: 02/11/2006, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Phạm Thị X1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/07/2024, bị Công an huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 2.875.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2025 đến ngày 30/12/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

2. Đỗ Văn X; sinh ngày: 10/02/1986, tại tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu A, xã H, tỉnh Phú Thọ (Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H và bà Lê Thị Kim Th; có vợ là Nguyễn Thị B và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/2022, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 6.000.000 đồng về hành vi “Đánh đập gây thương tích cho thành viên trong gia đình”; ngày 15/02/2023, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi “Đánh đập gây thương tích cho thành viên trong gia đình”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2025 đến ngày 30/12/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Duy M và Đỗ Văn X đều là đối tượng sử dụng ma túy, X là công nhân đang làm thuê tại xưởng cơ khí của gia đình M. Tối ngày 19/12/2025, M thuê xe taxi từ nhà sang khu vực qua cầu Non Nước thuộc xã Ý Yên, tỉnh Ninh Bình gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá có đặc điểm bên trong có 03 túi nilon màu trắng viền màu xanh và 01 túi nilon màu trắng viền đỏ bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng với giá 1.000.000 đồng để về sử dụng và nếu có ai hỏi mua thì bán. Sau khi mua được ma túy, M mang về nhà cất giấu ở dưới chiếu trên dát giường phòng ngủ của M. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/12/2025, M nhận được tin nhắn và cuộc gọi Messenger của X hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá và hẹn khi nào X đi làm về xưởng cơ khí thì M mang ma túy cho X. Do đang sẵn có ma túy đá mua trước đó chưa sử dụng nên M đồng ý bán cho X để hưởng tiền chênh lệch. M yêu cầu X chuyển tiền mua ma túy trước qua tài khoản ngân hàng Vietinbank số tài khoản 0812523964 của M. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi thấy X đi làm về xưởng, M gói 02 túi nilon có đặc điểm màu trắng, có viền màu xanh, bên trong đều có chất tinh thể màu trắng là ma túy đá vào 01 khẩu trang y tế màu hồng mang ra để ở gốc cây chanh gần khu vực bếp nhà M và nhắn tin Messenger chụp ảnh vị trí để ma túy cho X thì X nhắn tin nói M mang ra để ở bờ tường ngăn giữa nhà xưởng và nhà ở của M. Khi này M tiếp tục nhắn tin cho X về việc bờ tường không có chỗ để nên M để ma túy ở bãi cỏ phía trước xưởng cơ khí. Lúc này X đi từ trong xưởng cơ khí ra thấy M vất gói ma túy ở bãi cỏ thì X ra nhặt cất giấu trong người rồi đi về nhà. Sau đó M nhắn tin qua Messenger cho X nói X chuyển tiền mua ma túy, đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày X sử dụng tài khoản ngân hàng MBBank số 0972210635 của X chuyển số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng Vietinbank số 0812523964 của M và chụp ảnh giao dịch chuyển tiền gửi cho M.

Sau khi mua được ma túy của M, X mang đến khu vực mỏ đá Đông Sơn thuộc tổ dân phố 3B, phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình cất giấu ở trên mặt tường cống thoát nước ven đường để chờ khi ăn cơm xong thì ra lấy sử dụng. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, khi vừa cất giấu gói ma túy và đi bộ quay về thì bị tổ công tác Công an phường Trung Sơn đang tuần tra, phát hiện có biển hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đến yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ X khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy và đang cất giấu 02 túi ma túy đá trong 01 khẩu trang y tế màu hồng ở vị trí cống thoát nước. Tổ công tác yêu cầu X dẫn đến vị trí cất giấu ma túy, X tự tay lấy ở trên mặt tường cống thoát nước 01 gói khẩu trang màu hồng giao nộp. Tiến hành mở gói khẩu trang X giao nộp bên trong có 02 túi nilon màu trắng đều có viền màu xanh, bên trong đều có chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác tiến hành thu giữ, niêm phong 02 túi nilon theo quy định (ký hiệu QT1, QT2), ngoài ra còn thu giữ của X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A35x, lắp 02 sim Viettel số 0383380035 và 0972210635. Sau đó, tổ công tác đưa Đỗ Văn X cùng toàn bộ vật chứng đã thu giữ về trụ sở Công an phường Trung Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Quá trình làm việc, Đỗ Văn X khai nhận nguồn gốc 02 túi ma túy đá X giao nộp cho tổ công tác Công an phường Trung Sơn là do X mua của Bùi Duy M. Cùng ngày Công an phường Trung Sơn đã giao Đỗ Văn X cùng vật chứng và tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Bùi Duy M để làm việc, quá trình làm việc, M đã khai nhận về hành vi bán ma túy cho Đỗ Văn X nêu trên. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Duy M tại tổ dân phố Bình Khang, phường Yên Thắng, tỉnh Ninh Bình. Biết không thể che giấu được hành vi phạm tội, M đã tự lấy 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (7 x 8,5) cm bên trong có 01 túi nilon màu trắng viền xanh chứa chất tinh thể màu trắng ở túi quần trước bên trái giao nộp cho cơ quan công an (ký hiệu KX1). Quá trình khám xét, cơ quan Công an thu giữ dưới chiếu giường ngủ của M 01 túi nilon trắng viền đỏ kích thước (08x05)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu KX2); 10 vỏ túi nilon màu trắng viền xanh có cùng kích thước (02x1,5)cm; ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11, lắp 01 sim Vinaphone, số thuê bao 0812523964 của M.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Đỗ Văn X có khối lượng lần lượt 0,2939 gam và 0,2866 gam, ký hiệu T1 và T2. Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Bùi Duy M có khối lượng lần lượt 0,2579 gam và 0,3503 gam, ký hiệu M1, M2. Gửi giám định ma túy các mẫu ký hiệu T1, T2 và M1, M2.

Tại Bản kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T2, M1, M2 đều là ma túy, loại Methamphetamine.

Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 có khối lượng 0,2939 gam; ký hiệu T2 có khối lượng 0,2866 gam. Tổng khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu T1 và T2 là 0,5805 gam.

Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2579 gam; ký hiệu M2 có khối lượng 0,3503 gam. Tổng khối lượng mẫu gửi giám định ký hiệu M1 và M2 là 0,6082 gam”.

Tại Bản cáo trạng số: 33/CT- VKSKV2 ngày 10/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Ninh Bình đã truy tố:

Bùi Duy M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Đỗ Văn X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

- Tuyên bố bị cáo Bùi Duy M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đỗ Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Duy M từ 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù đến 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 21/12/2025. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn X từ 39 (Ba mươi chín) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/12/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Diều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine được hoàn trả sau giám định gồm: mẫu giám định ký hiệu T1 có khối lượng 0,2188 gam, ký hiệu T2 có khối lượng 0,2308 gam; ký hiệu M1 có khối lượng 0,2111 gam và ký hiệu 0,2900 gam, đều là ma túy, loại Methamphetamine; cùng toàn bộ bao gói niêm phong; 01 chiếc khẩu trang y tế màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (7x8,5) cm; 10 vỏ túi nilon màu trắng đều có viền xanh kích thước (2x1,5) cm; 03 sim điện thoại di động và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của Bùi Duy M và Đỗ Văn X (cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Ninh Bình và phòng thi hành án dân sự khu vực 2 Ninh Bình).

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Bùi Duy M phải nộp lại số tiền 1.000.000đồng để sung ngân sách nhà nước.

Các bị cáo nhất trí với luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 17 giờ ngày 20/12/2025, tại tổ dân phố Bình Khang, phường Yên Thắng, tỉnh Ninh Bình, Bùi Duy M đã bán trái phép 0,5805gam Methamphetamine cho Đỗ Văn X; ngoài ra M còn cất giấu 0,6082 gam Methamphetamine để bán cho người khác. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 20/12/2025, tại khu vực mỏ đá Đông Sơn thuộc tổ 3B, phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Văn X có hành vi cất giấu trái phép 0,5805 gam Methamphetamine để sử dụng.

Tại Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

...

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Đỗ Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Bị cáo Bùi Duy M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo xét thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, một khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và trật tự trị an trên địa bàn và các bị cáo có nhân thân xấu nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo. Bị cáo Bùi Duy M phạm tội có tính chất tư lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo Đỗ Văn X không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy được hoàn trả sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành, cùng toàn bộ bao gói niêm phong; 01 chiếc khẩu trang y tế màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (7x8,5)cm; 10 vỏ túi nilon màu trắng đều có viền xanh kích thước (2x1,5)cm; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 03 sim điện thoại di động không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của Bùi Duy M và Đỗ Văn X các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[6] Biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tiền Bùi Duy M bán ma tuý cho Đỗ Văn X ngày 20/12/2025, đây là tiền do phạm tội mà có (bị cáo đã tiêu sài hết) nên buộc bị cáo phải nộp lại sung ngân sách nhà nước.

[7] Về nguồn gốc số ma túy Bùi Duy M bán cho Đỗ Văn X và cất giữ mục đích để bán: Quá trình điều tra, M khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực cầu Non Nước thuộc xã Ý Yên, tỉnh Ninh Bình với giá 1.000.000 đồng vào tối ngày 19/12/2025. M không biết nhân thân lai lịch của người bán ma túy do vậy không có căn cứ xác M làm rõ.

Quá trình điều tra đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Bùi Duy M và Đỗ Văn X cho kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine. Nhân thân của M và X không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Nên không có căn cứ xử lý đối với Bùi Duy M và Đỗ Văn X về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Duy M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đỗ Văn X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng khoản 1, khoản 6 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 xử phạt bị cáo Bùi Duy M 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 21/12/2025. Phạt bị cáo 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 xử phạt bị cáo Đỗ Văn X 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 20/12/2025.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Diều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy số Methamphetamine được hoàn trả sau giám định gồm: mẫu giám định ký hiệu T1 có khối lượng 0,2188 gam, ký hiệu T2 có khối lượng 0,2308 gam; ký hiệu M1 có khối lượng 0,2111 gam và ký hiệu 0,2900 gam, đều là ma túy, loại Methamphetamine; cùng toàn bộ bao gói niêm phong; 01 chiếc khẩu trang y tế màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (7x8,5) cm; 10 vỏ túi nilon màu trắng đều có viền xanh kích thước (2x1,5) cm; 03 sim điện thoại di động và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của Bùi Duy M và Đỗ Văn X (cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Ninh Bình và phòng thi hành án dân sự khu vực 2 Ninh Bình).

5. Biện pháp tư pháp, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Bùi Duy M phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Bùi Duy M, Đỗ Văn X phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đồng.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

Cỡ chữ