vanban.org

Bản án 15/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Minh T phạm tội “Đánh bạc”;

Xử phạt Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Minh T phạm tội “Đánh bạc”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2026/HS-ST
Ngày: 28/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Trung Nam

2. Bà Ngô Thị Chiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Thư ký Toà án khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh ngày 25/8/1985 tại thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: khu phố D P, phường B, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1964 và bà Trần Thị Thu T2, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1964

Địa chỉ: Khu phố Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Ông Trần Phi H, sinh năm 1981

Địa chỉ: Khu phố N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Minh T làm nghề bán bún, phở tại nhà thuộc tổ C khu phố Đ, phường T, thành phố Hồ Chí Minh. Từ khoảng tháng 9/2025, T nảy sinh ý định đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho người khác dựa trên kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày. Những người mua số lô, số đề đến trực tiếp nhà T để ghi số lô, số đề và thanh toán tiền mặt. T thực hiện việc ghi các số lô, số đề khách mua vào tờ giấy học sinh (tờ phơi đề), đồng thời viết thêm 01 tờ giấy khác đưa cho khách để đối chiếu khi trúng thưởng. Các hình thức số lô, số đề mà T đã bán gồm: đầu đuôi, bao lô 02 con, bao lô 03 con, xỉu chủ, đá bộ 02 số, đá bộ 03 số, đá xiên bộ 02 số, đá xiên bộ 03 số theo tỷ lệ thắng thua từ mức 1 thắng 70 lần đến 600 lần.

Trong ngày 28/10/2025, T đã bán số lô đề đài miền N (gồm: Đài B, Đài V, Đài B) cho Trần Phi H, Nguyễn Minh T1, cụ thể: H mua bao lô 02 số 58, 70 với giá 10.000 đồng, đầu đuôi 58, 70 với giá 30.000 đồng. Kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của H là 480.000 đồng; T1 mua đầu đuôi các số 39, 44, 54 và 80 số tiền 6.000 đồng. Kết quả không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của T1 là 48.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/10/2025, Công an phường T tiến hành mời Nguyễn Minh T làm việc. Tại đây, T thừa nhận việc bán số lô, số đề cho 35 người gồm: Nguyễn Minh T1, Trần Phi H và 33 người khác (không xác định được nhân thân, lai lịch) với tổng số tiền 5.325.000 đồng, số tiền thực tế T thu được từ việc bán các số lô, số đề là 4.212.000 đồng. Số tiền người chơi thắng là 6.300.000 đồng, trong đó: đầu đuôi số 30 Đài B người chơi thắng 3.500.000 đồng, bao lô 02 con các số 14, 30, 48, 52 Đài B người chơi thắng 2.100.000 đồng, bao lô 02 con số 47 Đài Vũng Tàu người chơi thắng số tiền 700.000 đồng. Vậy tổng số tiền đánh bạc trong ngày 28/10/2025 của T là 11.625.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, T thừa nhận hành vi bán số lô, số đề như trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 tờ giấy hình chữ nhật, kích thước 30,5cm x 20,5cm là của Nguyễn Minh T sử dụng vào việc đánh bạc ngày 28/10/2025; 01 tờ giấy hình chữ nhật, kích thước 10cm x 7,5cm (tờ phơi đề thể hiện các số lô, số đề mà Trần Phi H mua của Nguyễn Minh T vào ngày 28/10/2025) và 01 tờ giấy hình chữ nhật, kích thước 10cm x 7,5cm (tờ phơi đề thể hiện các số lô, số đề mà Nguyễn Minh T1 mua của Nguyễn Minh T ngày 28/10/2025) được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

- Số tiền 4.212.000 đồng đã được chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12, thành phố Hồ Chí Minh quản lý, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 06 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện quyền công tố trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra; phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Minh T phạm tội: “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Minh T không có công việc thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 4.212.000 đồng.

Tại phiên tòa, Nguyễn Minh T không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và điều luật truy tố:

Lời khai nhận tội tại phiên tòa của Nguyễn Minh T phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Ngày 28/10/2025, tại tổ C khu phố Đ, phường T, thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Minh T đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán các số lô, số đề cho 35 người khác với tổng số tiền đánh bạc là 11.625.000 đồng, trong đó: số tiền bán số lô, số đề là 5.325.000 đồng (số tiền thực tế T thu từ người chơi là 4.212.000 đồng), số tiền người chơi thắng là 6.300.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý xác định hành vi của Nguyễn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Do đó căn cứ quy định tại điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo và mức hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính tại địa phương. Đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác và suy giảm nền kinh tế. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc bán số lô, số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thu lợi nhanh chóng, bị cáo đã cố ý thực hiện. Do đó, đối với bị cáo cần xem xét mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 4.212.000 đồng là tiền bị cáo thu được từ việc đánh bạc trái phép nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

. Về vấn đề khác:

Đối với hành vi của Trần Phi H và Nguyễn Minh T1: tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, tại thời điểm vi phạm, H và T1 không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi của Trần Phi H, Nguyễn Minh T1 không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã có công văn đề nghị Công an phường T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Phi H và Nguyễn Minh T1 theo quy định.

Đối với 33 người mua số lô, số đề của T vào ngày 28/10/2025 (chưa xác định nhân thân, lai lịch): Cơ quan CSĐT công an thành phố H tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý theo quy định khi có đủ căn cứ.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Minh T phạm tội “Đánh bạc”;

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 4.212.000đ (bốn triệu hai trăm mười hai nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000176 ngày 07/01/2026 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tp. Hồ Chí Minh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;

- VKSND khu vực 12 – Tp. Hồ Chí Minh;

- Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh;

- Cơ quan CSĐT Công an TP. Hồ Chí Minh;

- Phòng PV06 công an Tp. Hồ Chí Minh;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

Phan Thu Hiền

Cỡ chữ