vanban.org

Bản án 15/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Y.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Y được ly hôn anh Lê Văn D. Về con chung: Giao con chung là Lê Thục Anh, sinh ngày 23/11/2012 cho chị Lê Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành ( đủ 18 tuổi).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thi Y ly hôn Lê Văn D"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2026/HNGĐ - ST
Ngày 30 - 01 - 2026
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Vinh và ông Nguyễn Trung D

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hậu: Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 184/2025/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2026/QĐST ngày 15 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự;

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Y, sinh năm 1988; CCCD số: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: xóm Bắc, xã Hưng Ng, tỉnh Nghệ An; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

2. Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1980; CCCD số: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: xóm Bắc, xã Hưng Ng, tỉnh Nghệ An; hiện đang cư trú tại Cộng Hòa Séc; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Y trình bày: Chị và anh Lê Văn D kết hôn ngày 20/12/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An). Hôn nhân là tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cùng gia đình chồng tại (xóm Bắc, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên), tỉnh Nghệ An (nay là xóm Bắc, xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) được khoảng 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ chồng thiếu sự chia sẻ và thông cảm cho nhau, không tìm thấy tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị Lê Thị Y đề nghị được ly hôn với anh Lê Văn D.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Thục Anh, sinh ngày 23/11/2012. Vợ chồng ly hôn chị Y có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con trưởng thành và không yêu cầu anh Lê Văn D cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.

Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Lê Thị Y không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Lê Văn D: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án anh Lê Văn D vắng mặt. Chị Lê Thị Y không cung cấp được địa chỉ của anh D. Chị Y chỉ biết hiện nay anh D đang sinh sống, làm việc tại Cộng hòa Séc. Tòa án cũng đã hai lần gửi văn bản yêu cầu mẹ đẻ anh D là bà Lê Thị M, trú tại xóm Bắc, xã Hưng Ng cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà thông báo với anh D để anh D gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai lập ngày 29 tháng 12 năm 2025 bà M trình bày: Thời gian ở nước ngoài anh D thường liên lạc về với gia đình qua điện thoại hoặc mạng xã hội, còn địa chỉ của anh D do anh không cung cấp nên bà không biết. Bà M đã thông báo cho anh D biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị Y và anh D. Thông qua bà M, anh D đồng ý ly hôn và đồng ý giao con chung là cháu Lê Thục A cho chị Y trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung anh nhất trí.

Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị Minh mẹ đẻ anh D trình bày: Chị Y và anh D kết hôn với nhau có đăng ký kế hôn tại UBND xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) vào ngày 20/12/2012. Sau khi kết hơn vợ chồng chung sống cùng gia đình bà tại xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2025 anh D đi xuất khẩu lao động tại cộng Hòa Séc. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Lê Thục Anh, sinh ngày 23/11/2012. Hiện nay cháu học lớp 8 Trường THCS Hưng Nguyên. Từ năm 2023, do vợ chồng mâu thuẫn chị Y về ngoại sinh sống nên cháu Thục Anh ở với anh D và gia đình bà. Chị Y vẫn thường xuyên đi lại thăm con và lo cho con học tập đầy đủ. Nay bà tuổi đã cao, sức khỏe yếu; anh D đi làm ăn ở nước ngoài. Vợ chồng ly hôn chị Y có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thục Anh cho đến khi cháu trưởng thành bà hoàn toàn nhất trí. Ngoài ra, bà không có ý kiến nòa khác.

Tại biên bản xác minh lập ngày 16/12/2025 đối với ông Đặng Văn Bích, xóm trưởng xóm Bắc, xã Hưng Nguyên cho biết: Chị Y và anh D kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn đúng như các bên trình bày. Hiện nay, anh D đi làm ăn ở nước ngoài còn chị Y sống cùng bên ngoại. Tại địa phương anh D, chị Y có 01 con chung là cháu Lê Thục Anh, sinh ngày 23/11/2012. Hiện nay cháu học cấp 2 trường THCS Hưng Nguyên và sống cùng bà Lê Thị Minh (bà nội cháu) tại địa phương, cháu học tập và phát triển bình thường.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Y

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Y được ly hôn anh Lê Văn D

Về con chung: Giao con chung là Lê Thục Anh, sinh ngày 23/11/2012 cho chị Lê Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Doc chị Y không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự chưa yêu cầu nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1. 1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Chị Lê Thị Y yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Văn D. Hiện anh Lê Văn D đang cư trú tại nước ngoài nhưng không có địa chỉ cụ thể. Trước khi xuất cảnh anh D cư trú tại xóm Bắc, xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ngày 19/12/2025, Phòng quản lý xuất nhập cảnh, Công an tỉnh Nghệ An có văn bản số 5335/QLXNC - Đ1 cung cấp thông tin anh Lê Văn D xuất cảnh ngày 12/3/2025 qua cửa khẩu Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Đây là quan hệ "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân nhân dân khu vực 2 - Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122; Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 5 Nghị Quyết số 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[1. 2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Y vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Văn D vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hai lần gửi công văn yêu cầu bà Lê Thị Minh (mẹ đẻ của anh D) cung cấp địa chỉ của anh D đồng thời thông báo cho anh D biết để gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án. Tuy nhiên, bà Minh không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh D. Thông qua bà Minh, anh D đã biết Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị Y với anh nhưng cho đến nay anh D vẫn không có bất kỳ văn bản trình bày ý kiến nào gửi cho Tòa án nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho anh D tại nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung

[2. 1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Tại phiên tòa mặc dù vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Y giữ nguyên nội dung yêu cầu được ly hôn anh Lê Văn D.

Xét thấy: Chị Lê Thị Y và anh Lê Văn D tại thời điểm kết hôn có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình và có đăng ký kết hôn ngày ngày 20/12/2012 tại UBND xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, vợ chồng thiếu sự cảm thông, chia sẻ dẫn đến cuộc sống ngày càng căng thẳng, nặng nề. Chị Y về bên ngoại sinh sống. Từ năm 2025 anh D đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc cho đến nay. Vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau. Như vậy, vợ chồng không sống chung với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Y có nguyện vọng được ly hôn với anh D. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Y được ly hôn anh Lê Văn D.

[2. 2] Về con chung: Chị Lê Thị Y và anh Lê Văn D có 01 con chung là Lê Thục Anh, sinh ngày 23/11/2012. Kể từ năm 2022, chị Y về bên ngoại sinh sống cháu Thục Anh sống cùng bà Minh và anh D. Nay anh D đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, bà Minh tuổi cao, sức khỏe yếu nên không đủ điều kiện để tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Anh. Chị Y có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn phù hợp và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Lê Thục Anh có nguyện vọng được sống cùng với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con để con được học tập và phát triển tốt nhất nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Y giao con chung là cháu Lê Thục Anh cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đúng quy định.

[2. 3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Lê Văn D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Lê Thị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Lê Văn D vắng mặt chưa có ý kiến nên dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[4] Về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 - Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122, Điều 123; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5 Nghị Quyết số 01/2025/NQ - HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Y.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Y được ly hôn anh Lê Văn D.

2. Về con chung: Giao con chung là Lê Thục Anh, sinh ngày 23/11/2012 cho chị Lê Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành ( đủ 18 tuổi).

2. 1. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.

Anh Lê Văn D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị Y đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0003493 ngày 09/12/2025.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Y vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Lê Văn D vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Các đương sự

- TAND tỉnh Nghệ An;

- VKSND khu vực 2;

- Phòng THADS khu vực 2;

- UBND xã Hưng Nguyên;

- Lưu Hồ sơ vụ án.

Đặng Thị Phương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Như Khôi

Lê Phúc Lâm

Đặng Thị Phương

Cỡ chữ