- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thu Th - Hà Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thu Th.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2026/HNGĐ-ST Ngày: 30-01-2026 V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Tố Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xuân Giới
2. Bà Lê Thu Thúy
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Vũ Nhật Tuân-Kiểm sát viên.
Ngày 30-01-2026, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 05-12-2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10-01-2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2026/QĐST-HNGĐ ngày 26-01-2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu Th, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ 3, khu phố Đ1, phường T, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hà Văn H, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ 3, khu phố Đ1, phường T, tỉnh Quảng Ninh (đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thu Th khai: Chị và anh Hà Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22-5-2015 tại Ủy ban nhân dân (viết tắt: UBND) phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là UBND phường T, tỉnh Quảng Ninh). Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống hạnh phúc tại nhà của bố mẹ đẻ chị ở phường Đ. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống; chị và anh H sống chung một nhà nhưng đã ly thân về mặt tình cảm từ giữa tháng 10-2025 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã hết nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Chị và anh H có 02 con chung là Hà Nhật M, sinh ngày 23-11-2014 và Hà Như Y, sinh ngày 26-9-2023. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên; chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị làm nghề spa, thu nhập trung bình là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)/tháng, đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn là anh Hà Văn H nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không lý do.
Tại biên bản lấy ý kiến, nguyện vọng ngày 29-12-2025, cháu Hà Nhật M có quan điểm xác định cháu là con đẻ của chị Th và anh H; hiện nay cháu đang H lớp 6A1, trường THCS Đ; sức khỏe của cháu bình thường; cháu có ý kiến, nguyện vọng đề nghị Tòa án giao cháu cho mẹ cháu là Nguyễn Thu Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên.
Tại biên bản làm việc ngày 07-01-2026, đại diện khu Đ1, phường T, tỉnh Quảng Ninh cung cấp: theo giấy chứng nhận kết hôn thể hiện chị Th và anh H đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là UBND phường T, tỉnh Quảng Ninh) đúng như chị Th đã khai. Sau khi kết hôn, chị Th và anh H chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị Th. Quá trình chung sống, chị Th và anh H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nay chị Th xin ly hôn với anh H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Th và anh H có 02 con chung như chị Th đã khai. Đề nghị Tòa án giao các con chung cho người có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung của chị Th và anh H thì khu phố không rõ.
Tòa án đã thông báo cho các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Th có mặt, còn anh H vắng mặt không lý do. Do chị Th có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ngày 28-01-2026, chị Th có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên toàn bộ các lời khai và yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa:
Chị Th và anh H đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: về việc tuân theo pháp luật tố tụng, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà về cơ bản đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn về cơ bản đã chấp hành pháp luật tố tụng; còn bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Về nội dung, đề nghị Toà án căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các khoản 1,2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th, xử cho chị Th được ly hôn với anh H. Giao 02 con chung là Hà Nhật M, sinh ngày 23-11-2014 và Hà Như Y, sinh ngày 26-9-2023 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung và nợ chung, do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Toà án không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Nguyễn Thu Th khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn là anh Hà Văn H cư trú tại tổ 3, khu phố Đ1, phường T, tỉnh Quảng Ninh. Tòa án nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh thụ lý, giải quyết vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025) và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Chị Th và anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị Th vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; còn anh H vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
2 Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là UBND phường T, tỉnh Quảng Ninh) ngày 22-5-2015; nên hôn nhân của chị Th và anh H là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, chị Th và anh H chung sống hạnh phúc tại nhà của bố mẹ đẻ chị Th ở phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường T, tỉnh Quảng Ninh). Quá trình chung sống, chị Th và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống; vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân; chị Th và anh H vẫn sống chung một nhà nhưng đã ly thân về mặt tình cảm từ giữa tháng 10-2025 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau; nên chị Th và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ về nhân thân là tình nghĩa vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Nay chị Th xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã hết nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vắng mặt không lý do, không có quan điểm về việc chị Th xin ly hôn. Tòa án đã triệu tập các đương sự đến tham gia phiên hòa giải nhưng chị Th đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh H, còn anh H vắng mặt không lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân giữa chị Th và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững không đạt được. Vì vậy, việc chị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, được Toà án chấp nhận.
- Về con chung: quá trình chung sống, chị Th và anh H có 02 con chung là Hà Nhật M, sinh ngày 23-11-2014 và Hà Như Y, sinh ngày 26-9-2023. Hiện nay, 02 con chung có sức khỏe bình thường. Ly hôn, chị Th đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên; chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tòa án xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không có quan điểm về việc nuôi dưỡng các con chung. Tại biên bản lấy ý kiến, nguyện vọng ngày 29-12-2025, con chung là Hà Nhật M có nguyện vọng đề nghị Tòa án giao cháu cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Hiện nay, chị Th đang làm làm nghề spa (chăm sóc sắc đẹp), thu nhập trung bình là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)/tháng, đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con chung, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th, giao các con chung là Hà Nhật M và Hà Như Y cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại các khoản 1,2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do chị Th không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết là phù hợp với quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, anh H cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về các nội dung trên. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết là phù hợp với quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3 Về án phí: Chị Th phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp ngày 05-12-2025, chị Th đã nộp đủ án phí.
4 Về quyền kháng cáo: Chị Th và anh H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, Điều 35 (sửa đổi bổ sung năm 2025), điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, các khoản 1,2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thu Th.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thu Th được ly hôn với anh Hà Văn H.
- Về con chung: giao 02 (hai) con chung là Hà Nhật M, sinh ngày 23-11-2014 và Hà Như Y, sinh ngày 26-9-2023 cho chị Nguyễn Thu Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Anh Hà Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Toà án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thu Th phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002323 ngày 05-12-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh; chị Th đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Th và anh H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 1-Quảng Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bùi Thị Tố Nga THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bùi Thị Tố Nga THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bùi Thị Tố Nga THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bùi Thị Tố Nga THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bùi Thị Tố Nga THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bùi Thị Tố Nga THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Bùi Thị Tố Nga
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP Hạ Long; - Chi Cục THADS TP Hạ Long; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thị Tố Nga |