vanban.org

Bản án 15/2026/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 14/01/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/01/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Gia Lai về ph n án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C trả lại cho ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T 40,50m2 thuộc thửa đất số 3a, t bản đồ số 75 tại thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai (Có sơ đồ kèm theo bản án). Ph n diện tích đất ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T kiện đòi nh ng không đ ợc chấp nhận là 23,80m2 (trị giá: 7… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đinh Xuân S - Hoàng Bá H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Gia Lai về ph n án phí dân sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2026/DS-PT
Ngày: 14 - 01 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy

Các Thẩm phán: Ông Phan Minh Dũng

Bà Võ Thị Hồng Thu

- Thư ký phiên tòa:Bà Tr n Thị Thu Tr ng - là Th k Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tr n Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số 262/2025/TLPT-DS ngày 24/10/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 320/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2025, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Đinh Xuân S, sinh năm 1965 và bà Cao Thị T, sinh năm 1965; cùng địa chỉ: Thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy H - Luật s của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật s tỉnh G; địa chỉ: Số I đ ng P, ph ng P, tỉnh Gia Lai, có mặt.

- Bị đơn: Ông Hoàng Bá H1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962; cùng địa chỉ: Thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Đức L, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; cùng địa chỉ: Thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai), có mặt.

Do có kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Đinh Xuân S và bà Cao Thị T thống nhất trình bày:

Tr ớc đây, ông bà là vợ chồng. Nay đã ly hôn. Ông, bà có thửa đất số 3a, t bản đồ số 75, diện tích 318m2, địa chỉ tại thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AG 579627 do UBND huyện Đ cấp ngày 19/3/2007). Nguồn gốc thửa đất này do ông, bà nhận chuyển nh ợng của vợ chồng ông Phan Đức L, bà Nguyễn Thị T1 vào năm 2001. Đất chuyển nh ợng ch a có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc nhận chuyển nh ợng đất đ ợc lập thành giấy viết tay; giá chuyển nh ợng là 13.000.000 đồng; ông, bà đã trả đủ tiền. Thửa đất nhận chuyển nh ợng của vợ chồng ông L, bà T1 là một ph n của thửa đất của vợ chồng ông L, bà T1. Kích th ớc: Nam giáp đ ng Quốc lộ 19 dài 6m; Bắc giáp đ ng lô 2 dài 6m. Đông giáp đất còn lại của ông L; Tây giáp đất của ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C, dài khoảng 50m.

Năm 2002, vợ chồng ông L chuyển nh ợng cho ông, bà ph n diện tích đất còn lại kích th ớc 6mx51m với giá 18.000.000 đồng. Việc chuyển nh ợng đất l n này cũng đ ợc lập thành giấy viết tay. Ông, bà đã trả 16.500.000 đồng, còn nợ lại 1.500.000 đồng (t ơng đ ơng 0,5m mặt đ ng).

Nh vậy tổng 02 l n nhận chuyển nh ợng đất của vợ chồng ông L, bà T1, thửa đất nhận chuyển nh ợng của ông, bà có chiều dài giáp đ ng Quốc lộ 19 và chiều dài giáp đ ng lô 2 là 12m.

Ông, bà đăng k quyền sử dụng thửa đất nhận chuyển nh ợng vào năm 2001 và đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này. Đó là thửa đất số 3a, t bản đồ số 75, diện tích 318m2 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AG 579627 do UBND huyện Đ cấp ngày 19/3/2007).

Riêng diện tích đất nhận chuyển nh ợng của vợ chồng ông L vào năm 2002 đã cấp giấy chứng nhận đứng tên ông Phan Đức L, bà Nguyễn Thị T1, là thửa đất số 3b, t bản đồ số 75, diện tích 285m2 địa chỉ tại xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AP 047992 do UBND huyện Đ cấp ngày 19/4/2010). Cho đến nay, giữa ông, bà và vợ chồng ông L vẫn ch a hoàn thành thủ tục chuyển nh ợng là do còn đang có tranh chấp.

Vào năm 2009, ông, bà tiến hành xây nhà trên diện tích đất nhận chuyển nh ợng của vợ chồng ông L vào năm 2001. Ông, bà phát hiện vợ chồng ông H1, bà C xây hàng rào mới, lấn chiếm sang đất của ông, bà. Tuy nhiên, ông, bà vẫn xây dựng nhà cấp 4 theo hiện trạng đất còn lại sau khi bị lấn chiếm.

Năm 2010, ông, bà khiếu nại việc vợ chồng ông H1, bà C lấn chiếm đất đến thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vợ chồng ông H1, bà C nhất trí trả lại đất đã lấn chiếm, đã đóng cọc xác định lại ranh giới nh ng sau đó vợ chồng ông H1, bà C thay đổi kiến, nhổ cọc và không trả lại đất.

Năm 2011, ông, bà khiếu nại việc vợ chồng ông H1, bà C lấn chiếm đất đến UBND xã I. Việc hoà giải tranh chấp không thành.

Vào năm 2013, ông Phan Đức L có tranh chấp vợ chồng ông, bà yêu c u thanh toán đủ tiền nhận chuyển nh ợng đất vào năm 2002 tại UBND xã I. Vụ việc đ ợc UBND xã I hoà giải nh ng không thành.

Năm 2016, ông Phan Đức L kiện vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C để đòi lại diện tích đất bị vợ chồng ông H1, bà C lấn chiếm. Sau đó, vụ án bị đình chỉ vào năm 2017.

Ông, bà khởi kiện vợ chồng ông H1, bà C yêu c u trả lại diện tích đất lấn chiếm là 64,3m2 (kích th ớc: phía giáp đ ng QL 19 dài 0,44m; phía giáp đ ng lô 2 dài 2,1m).

- Bị đơn ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C thống nhất trình bày:

Vợ chồng ông, bà có thửa đất số 09, t bản đồ số 75, diện tích 618m2, địa chỉ tại thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AG 579873 do UBND huyện Đ cấp ngày 16/3/2007). Nguồn gốc thửa đất này do ông, bà nhận chuyển nh ợng của vợ chồng ông Phan Đức L, bà Nguyễn Thị T1 vào năm 1991 hoặc 1992. Việc nhận chuyển nh ợng đất chỉ thoả thuận bằng miệng, giá chuyển nh ợng là 300.000 đồng. Thửa đất nhận chuyển nh ợng rộng giáp Quốc lộ A là 13m.

Sau khi nhận chuyển nh ợng đất thì vào năm 1992 ông, bà có dựng nhà gỗ, năm 1998 ông, bà trồng tiêu trên ph n diện tích đất còn lại, khoảng từ năm 2002 đến năm 2005 thì ông, bà nhổ tiêu. Đến năm 2020 thì ông, bà phá bỏ nhà gỗ xây dựng 01 căn nhà cấp 4. Trong quá trình sử dụng đất thì ông, bà không có lấn chiếm đất của ai.

Theo ông, bà đ ợc biết thì thửa đất của vợ chồng bà T, ông S là do vợ chồng bà T, ông S nhận chuyển nh ợng của ông L vào năm 2001 có chiều ngang 6m mặt đ ng Quốc lộ 19. Năm 2009 thì vợ chồng bà T, ông S xây dựng nhà ở. Nhà của vợ chồng bà T, ông S xây giáp ranh giới đất của ông, bà.

Hiện tại, theo trích lục bản đồ địa chính đ ợc đo đạc năm 2024 thì thửa đất của ông, bà phía Nam giáp đ ng Quốc lộ 19 dài 13,60m; phía Bắc giáp đ ng L, dài 15,36m. L do của việc có ph n diện tích đất tăng thêm nh này là sau khi nhận chuyển nh ợng đất vào năm 1992 thì ông, bà có khai phá thêm diện tích đất để sử dụng.

Ông, bà không có lấn chiếm đất của ông S, bà T. Do đó không đồng với yêu c u khởi kiện của vợ chồng ông S, bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Đức L và bà Nguyễn Thị Thanh thống N trình bày:

Tr ớc đây, ông có thửa đất tại thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, kích th ớc 35mx100m. Nguồn gốc đất do khai hoang vào năm 1989. Thửa đất có ranh giới, giới cận nh sau: Đông giáp đất nhà bà N1, dài khoảng 100m, Tây giáp đất vợ chồng ông Đ, bà C1, dài khoảng 100m; Nam giáp đ ng Q, dài 35m; Bắc giáp đất của ng i khác, dài 35m. Có xác nhận của nông tr ng.

Vào năm 1992, vợ chồng ông chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C 12m mặt đ ng Quốc lộ 19. Việc chuyển nh ợng đất đ ợc lập thành giấy viết tay có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã I. Giấy viết tay do ông H1, bà C giữ. Thửa đất chuyển nh ợng có giới cận nh sau: Đông giáp ph n diện tích đất còn lại của vợ chồng ông, dài khoảng 100m; Tây giáp đất của vợ chồng ông Đ, bà C1, dài khoảng 100m; Nam giáp đ ng Q, dài 12m; Bắc giáp đất của ng i khác, dài 12m.

Khoảng một th i gian sau, Nhà n ớc mở đ ng lô 2, đã thu hồi của vợ chồng ông một ph n diện tích đất, có đền bù công khai hoang. Thửa đất của vợ chồng ông sau khi đã chuyển nh ợng cho vợ chồng ông H1, bà C phía giáp đ ng QL 19 dài 23m, chiều dài đến đ ng tuyến 2 khoảng hơn 50m.

Năm 2001, vợ chồng ông chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T một ph n thửa đất còn lại. Thửa đất chuyển nh ợng của vợ chồng ông S, bà T có kích th ớc 6mx53m, có ranh giới, giới cận nh sau: Đông giáp ph n diện tích đất còn lại của vợ chồng ông, dài 53m; Tây giáp đất của vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C, dài 53m; Nam giáp đ ng Q, dài 6m; Bắc giáp đ ng lô 2, dài 6m. Tài sản trên đất lúc nhận chuyển nh ợng có một số cây cà phê, cây điều, cây mít. Việc nhận chuyển nh ợng đất đ ợc lập thành giấy viết tay. Giá chuyển nh ợng bao nhiêu ông, bà không nhớ. Vợ chồng ông S, bà T đã trả đủ tiền.

Trong năm 2002, l n l ợt ông chuyển nh ợng hết ph n diện tích đất còn lại theo thứ tự th i gian nh sau:

Đ u tiên: Năm 2002, chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Trịnh Khắc Q, bà B ph n thửa đất có kích th ớc: 6m giáp đ ng QL19, dài khoảng 50m. Tiếp theo: Cũng năm 2002, chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Phạm Đức H2, bà T2 ph n thửa đất có kích th ớc: 5m giáp đ ng QL19, dài khoảng 50m. Việc chuyển nh ợng đất cho ông Q, ông H2 đều đ ợc lập thành Giấy viết tay có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã I.

Cuối cùng: Năm 2002, ông, bà chuyển nh ợng cho vợ chồng ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T ph n thửa đất diện tích còn lại sau cùng, ranh giới nh sau: Đông giáp đất của ông Phạm Đức H2, bà T2, dài khoảng hơn 50m; Tây giáp ph n diện tích đất đã chuyển nh ợng cho vợ chồng ông S, bà T vào năm 2001, dài khoảng hơn 50m; Nam giáp đ ng Q, dài 6m; Bắc giáp đ ng lô 2, dài 6m.

Việc chuyển nh ợng đất cho vợ chồng bà T, ông S l n này cũng đ ợc lập thành Giấy viết tay có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã I. Ông, bà T còn nợ tiền t ơng đ ơng giá trị 0,5m đất mặt đ ng.

Vợ chồng bà T, ông S đã đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ph n diện tích nhận chuyển nh ợng vào năm 2001. Riêng diện tích đất chuyển nh ợng vào năm 2002, vợ chồng bà T ch a trả hết tiền. Ph n diện tích đất này đã đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông, bà. Thửa đất này là thửa đất số 3b, t bản đồ số 75, diện tích 285m2 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AP 047992 do UBND huyện Đ cấp ngày 19/4/20010 đứng tên ông, bà, đã giao cho ông S, bà Thu G).

Nh vậy, thửa đất của ông S, bà T sau 02 l n nhận chuyển nh ợng có chiều dài giáp đ ng và chiều dài giáp đ ng lô 2 là 12m. Vợ chồng ông S, bà T đã nhận đủ đất. Vợ chồng ông H1, bà C lấn chiếm đất của ông S, bà T là có thật.

Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Gia Lai quyết định:

Căn cứ các Điều 144, 147, 157, 158, 161, 162, 165, 166, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 163, 166 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 26, 31, 37 của Luật đất đai năm 2024;

Căn cứ các Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của ông Đinh Xuân S và bà Cao Thị T:

Buộc vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C trả lại cho ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T 40,50m2 thuộc thửa đất số 3a, t bản đồ số 75 tại thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai (trị giá: 12.597.200 đồng).

Có sơ đồ kèm theo.

2. Ph n diện tích đất ông S, bà T kiện đòi nh ng không đ ợc chấp nhận là 23,80m2 (trị giá: 7.402.800 đồng).

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng; án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đ ơng sự.

Ngày 12/8/2025, bị đơn ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C kháng cáo: Yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận kiến đòi đất của ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện; các bị đơn giữ nguyên yêu c u kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phát biểu: Trong quá trình tố tụng, ng i tiến hành tố tụng và ng i tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; Đồng th i đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn về ph n án phí, không chấp nhận kháng cáo về việc đề nghị bác toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C, sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về nguồn gốc đất tranh chấp:

Vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C và ông Phan Đức L thừa nhận thửa đất số 09, t bản đồ số 75 của ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C có nguồn gốc ông H1, bà C nhận chuyển nh ợng của ông Phan Đức L vào năm 1992. Thửa đất có chiều ngang giáp đ ng QL 19 là 13m. Đông giáp đất ông Phan Đức L, Tây giáp đất trống. Ông H1, bà C đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 16/3/2007 với diện tích 618m2.

Ngày 02/3/2001, ông Phan Đức L chuyển nh ợng cho ông S, bà T thửa đất số 3a, t bản đồ số 75 tại thôn I, xã I có cạnh phía Nam giáp đ ng Quốc lộ 19 dài 6m; Bắc giáp đ ng lô 2 dài 6m. Ông S, bà T đã đ ợc UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AG 579627 vào ngày 19/3/2007, diện tích 318m2. Năm 2002, ông L tiếp tục chuyển nh ợng ph n đất còn lại là thửa đất số 3b, t bản đồ số 75, có cạnh phía Nam giáp Quốc lộ A dài 5,5m, cạnh phía Bắc giáp đ ng lô 2 dài 5,5m nh ng việc chuyển nh ợng ch a hoàn thành. Giữa ông L và ông S, bà T có tranh chấp về diện tích đất chuyển nh ợng và nghĩa vụ thanh toán. Thửa đất này có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AP 047992 do UBND huyện Đ cấp ngày 19/4/2010 cho vợ chồng ông L, bà T1, diện tích 285m2. Ranh giới phía Đông giáp thửa đất số 3c của ông Phạm Đức H2 nhận chuyển nh ợng của ông L (không có tranh chấp).

. Tại văn bản số 823/UBND-KT ngày 23/4/2025 của UBND huyện Đ về cung cấp thông tin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện: Phía Nam của thửa đất 3a và 3b (giáp đ ng Quốc lộ 19), kích th ớc chiều dài khoảng 12m; phía Bắc của thửa đất 3a và 3b (giáp đ ng bê tông), kích th ớc chiều dài khoảng 12m và Tại văn bản số 1109 /UBND-KT ngày 03/6/2025 của UBND huyện Đ, tỉnh Gia Lai có nội dung: Thửa đất số 09, t bản đồ số 75 đã đ ợc đo đạc lại có kích th ớc thay đổi so với số liệu bản đồ địa chính sử dụng để cấp Giấy chứng nhận. T bản đồ địa chính sử dụng để cấp Giấy chứng nhận đ ợc l u trữ bằng file giấy đã bị nhàu nát nên không có cơ sở để thực hiện đo và thể hiện chiều dài các cạnh của các thửa đất theo đề nghị của Toà án.

Theo Kết quả xét thẩm định tại chỗ ngày 06/3/2025:

- Thửa đất số 3a, t bản đồ số 75 và thửa đất số 3b, t bản đồ số 75 là hai thửa đất liền kề không có ranh giới phân biệt mà hợp thành một thửa có giới cận: Phía Bắc giáp đ ng bê tông, có cạnh dài là 9,90m; phía Nam giáp đ ng Q, có cạnh dài là 11,56m; phía Đông giáp thửa đất nhà ở do ông Phan Đức L chuyển nh ợng cho ông Phạm Đức H2, có ranh giới là t ng nhà xây bằng gạch, trụ bê tông, l ới B40; phía Tây giáp thửa đất nhà ở của vợ chồng ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C, có ranh giới là t ng nhà xây bằng gạch của ông S, bà T.

- Thửa đất số 09, t bản đồ số 75 có giới cận: Phía Bắc giáp đ ng bê tông, có cạnh dài là 15,20m; phía Nam giáp đ ng Q, có cạnh dài là 13,60m; phía Đông giáp thửa đất nhà ở của ông Đinh Xuân S và bà Cao Thị T, có ranh giới là t ng nhà xây bằng gạch của ông S, bà T; trụ bê tông, l ới B40, hàng rào kẽm gai, cọc gỗ của ông H1 và bà C; phía Tây giáp thửa đất nhà ở của bà H3, có ranh giới là t ng nhà xây bằng gạch, trụ bê tông, hàng rào kẽm gai của ông H1, bà C.

Ông H1, bà C cho rằng, vợ chồng ông bà nhận chuyển nh ợng thửa đất của ông L có cạnh giáp Quốc lộ A là 13m, giới cận thửa đất: phía đông giáp đất ông L, phía tây giáp đất nhà Đ, C1. Chiều dài cạnh giáp đ ng là 13m. Tuy nhiên, qua đo đạc thực tế thể hiện thửa đất của ông bà có cạnh phía Nam giáp đ ng Q là 13,60m; cạnh phía Bắc dài là 15,20m. Nh vậy, theo kết quả đo đạc thực tế thì ph n diện tích đất H1, bà C đang sử dụng so với ph n diện tích đất ông H1, bà C nhận chuyển nh ợng của ông L thì cạnh phía Nam thừa 0,6m; cạnh phía Bắc thừa 2,2m. Ông H1, bà C trình bày l do kích th ớc các cạnh này tăng thêm là do vợ chồng ông bà khai phá thêm nh ng không cung cấp đ ợc chứng cứ chứng minh. Hội đồng xét xử xét thấy: Thửa đất của ông bà ở giữa, phía đông giáp đất ông L, phía tây giáp đất nhà Đ, C1 thì không còn đất để khai phá thêm theo cạnh Đ1 - Tây. Nên việc ông bà nại rằng đất tăng thêm là do khai phá là không có cơ sở. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một ph n khởi khiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C trả lại cho ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T 40,50m2 thuộc thửa đất số 3a, t bản đồ số 75 tại thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai là có căn cứ, đúng quy định.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C về việc đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận ý kiến đòi đất của ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn khởi kiện yêu c u Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn ph n diện tích đất lấn chiếm. Tại khoản 1 Điều 27 Nghị quyết 326 quy định các đ ơng sự tranh chấp quyền sử dụng đất là của ai thì thuộc tr ng hợp án phí không có giá ngạch. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn và bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là không đúng quy định nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn, sửa ph n án phí sơ thẩm cho đúng quy định.

Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C đ ợc chấp nhận một ph n, nên ông H1, bà C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm về ph n án phí là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 163, 166 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 26, 31, 37 của Luật đất đai năm 2024;

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 26; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn ông Hoàng Bá H1 và bà Nguyễn Thị C, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Gia Lai về ph n án phí dân sự sơ thẩm.

1. Buộc vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C trả lại cho ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T 40,50m2 thuộc thửa đất số 3a, t bản đồ số 75 tại thôn I, xã I, tỉnh Gia Lai (Có sơ đồ kèm theo bản án).

2. Ph n diện tích đất ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T kiện đòi nh ng không đ ợc chấp nhận là 23,80m2 (trị giá: 7.402.800 đồng).

3. Về án phí:

3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng.

- Ông Đinh Xuân S, bà Cao Thị T phải chịu 300.000 đồng, đ ợc khấu trừ vào 1.600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0007874 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Gia Lai); hoàn trả cho ông S, bà T 1.300.000 đồng.

3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Vợ chồng ông Hoàng Bá H1, bà Nguyễn Thị C không phải chịu. Hoàn trả cho ông H1, bà C 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001678 ngày 26/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Tr ng hợp bản án,quyết định đ ợc thi hành theo quy đinh tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì ng i đ ợc thi hành án dân sự,ng i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, th i hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ