vanban.org

Bản án 15/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ma Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Ma Văn P 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ma Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HSST
Ngày: 20/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ P toà: Bà Lê Thị Thanh Loan

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Hải

2. Ông Nguyễn Văn Đông

- Thư ký P toà: Bà Phạm Hồng Hà – Thầm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia P toà: Ông Hà Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 333/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo: MA VĂN P, sinh năm 2001; HKTT: Thôn Đồng L, xã Phúc T, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Ma Văn P và bà: Lèng Thị N. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 444 ngày 20/8/2024 do Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị bắt ngày 23/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).

* Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1960 (đã chết)

*Người đại diện hợp pháp của bị hại là:

- Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1962 (Vợ ông T)

Trú tại: 275 Ngô Gia T, phường Đức G, quận Long Biên, TP Hà Nội.

- Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990 (Con gái ông T)

Trú tại: Số 25 ngõ 42, tổ 27, TTVC, phường Quan H, quận Cầu Giấy, thành

phố Hà Nội.

- Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1988 (con gái ông T) Địa chỉ: Số 87 ngõ 66 Ngọc L, phường Ngọc L, quận Long Biên, TP Hà Nội.

Bà T, chị H uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị Thu H theo văn bản uỷ quyền số 5258 quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 12/12/2024 tại Văn phòng công chứng Long Biên, thành phố Hà Nội. (Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Lèng Thị N, sinh năm 1978 Địa chỉ: Thôn Đồng L, xã Phúc T, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại P tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, sau khi ăn, uống rượu tại quán trên đường Ngô Gia T, Ma Văn P điều khiển xe mô tô mang BKS: 22F1-419.75 đi ngược chiều đường Ngô Gia T theo hướng cầu Chương Dương đến Cầu Đuống. Khi đến trước cửa số nhà 311 đường Ngô Gia T, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội xe do P điều khiển với tốc độ khoảng 50km/h xảy ra va chạm tai nạn giao thông với xe mô tô mang BKS: 29K1-096.51 do ông Nguyễn Ngọc T điều khiển đi đúng chiều đường hướng cầu Đuống đến cầu Chương Dương. Sau khi xảy ra tai nạn, ông T và P được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang. Ông T được chuyển sang Bệnh viện 108 cấp cứu. Đến ngày 18/01/2024, ông T tử vong tại nhà, Ma Văn P bị thương nhẹ, hai phương tiện liên quan bị hư hỏng nhẹ. Tang vật thu giữ:

- Xe mô tô mang BKS: 29K1- 096.51 cùng giấy phép lái xe, đăng ký xe mang tên ông Nguyễn Ngọc T.

- Xe mô tô mang BKS: 22F1- 419.75 và đăng ký xe mang tên bà Lèng Thị N.

Tại cơ quan điều tra, Ma Văn P khai nhận: P không có giấy phép lái xe hợp lệ, sử dụng rượu, điều khiển xe mô tô mang BKS: 22F1-419.75 đi ngược chiều, thiếu chú ý quan sát dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS: 29K1- 096.51 do ông T điều khiển gây hậu quả ông T tử vong. Chiếc xe mô tô do P điều khiển gây tai nạn là của Bà Lèng Thị N (sinh năm: 1978, HKTT: xã Phúc T, huyện Chiêm Hoá, Tuyên Quang) là mẹ đẻ của P. P lấy xe mô tô để mang xuống Hà Nội tham gia giao thông khi bà Niệu không biết. Sau đó, bà Niệu đã yêu cầu P mang xe về trả bà Niệu nhưng P nói do bận nên chưa mang về được.

Cơ quan cảnh sát điều tra, công an quận Long Biên đã phối hợp với Cơ quan pháp y, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tiến hành thủ tục pháp y tử thi ông Nguyễn Ngọc T. Tuy nhiên, gia đình ông T có đơn xin từ chối mổ pháp y tử thi nên chỉ tiến hành khám ngoài tử thi.

Kết quả khám nghiệm hiện hiện trường thể hiện:

“1. Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn:

Hiện trường được xác định xảy ra tại đường Ngô Gia T, phường Đức Giang, Long Biên, Hà Nội. Đường Ngô Gia T là đường đôi, giữa đường có dải phân cách cứng chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Chiều từ cầu Đuống hướng cầu Chương Dương (Nguyễn Văn Cừ) được trải nhựa thẳng phẳng rộng 14,1 mét, được chia thành 4 làn đường xe chạy; Tính từ dải phân cách giữa đường vào mép đường các làn đường có số đo lần lượt là 3,8m; 3,5m; 3,5m; 3m. Các làn đường được ngăn cách với nhau bằng vạch sơn trắng nét đứt, duy nhất có làn đường sát dải phân cách ngăn cách với làn liền kề bằng vạch sơn trắng liền. Tại hai đầu dải phân cách giữa đường đều có biển báo cấm đi ngược chiều.

2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Xe mô tô BKS: 29K1-096.51

(2) Xe mô tô BKS: 22F1-419.75

3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:

- Mép đường làm chuẩn: Mép phải đường Ngô Gia T chiều đường hướng từ cầu Đuống đi cầu Chương Dương.

- Mốc: Mép trái của nhà số 311 Ngô Gia T chiều nhìn từ trong nhà ra đường.

4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

- Xe mô tô BKS: 29K1-096.51 (ký hiệu (1)) nằm đổ nghiêng bên phải xuống đường Ngô Gia T, đầu xe hướng chếch trái hướng cầu Chương Dương. Đo từ hình chiếu vuông góc tâm đầu trục bánh trước, sau xe mô tô này vào mép đường làm chuẩn lần lượt là 4,7 mét và 4,2 mét.

- Xe mô tô BKS: 22F1-419.75 dựng chân chống bên cạnh trên đường Ngô Gia T quay ngang đường, đầu xe hướng mép đường làm chuẩn. Đo từ hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục bánh trước xe này về hướng cầu Đuống cách hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục bánh trước xe mô tô (1) là 1,3 mét. Đo lần lượt hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục bánh trước, sau xe mô tô này vào mép đường làm chuẩn lần lượt là 4,5 mét và 5,1 mét.

Đo từ hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục bánh trước xe mô tô này về hướng cầu Chương Dương cách điểm mốc là 4,4 mét.”

Tại kết luận giám định tử thi nạn nhân Nguyễn Ngọc T số 159/93/KLGĐTT-TTPY ngày 16/02/2024 của Trung tâm Pháp Y Hà Nội:

1. Các kết quả chính: Vết mổ vùng thái dương đỉnh hai bên còn ghim cố định kích thước 33cm x 0,5cm; Khuyết xương vùng trán; Bầm tím sây sát da rải rác vùng trán, mặt, thái dương, mũi, miệng trên diện 20cm x 27cm; Bầm tím niêm mạc môi trên kích thước 5,5cm x 1,5 cm; Cổ vững, Ngực vững; Sây sát da vùng xương đòn phải kích thước 0,5cm x 0,2cm; Bầm tím da ngực phải kích thước 6cm x 2cm; Bầm tím da ngực trái kích thước 3cm x 1,5cm: Tay phải:Thủng da mặt trước khuỷu tay kích thước 0,1 cm x 0,1 cm (dạng dấu vết kim tiêm), bầm tím da mu bàn tay và các ngón tay trên diện 10cm x 9cm, sờ nắn không thấy gãy xương; Tay trái: Bầm tím da mặt sau khuỷu tay kích thước 2,5 cm x 2cm, bầm tím da mặt ngoài cổ tay kích thước 8cm x 2cm, bầm tím da mu bàn tay kích thước 8cm x 7 cm, thủng da mặt trước khuỷu tay kích thước 0,1cm x 0,1 cm (dạng dấu vết kim tiêm), Sờ nắn không thấy gãy xương; Bụng không thấy sưng nề bầm tím da; Lưng không thấy sưng nề bầm tím da; Mông không thấy sưng nề bầm tím da; Cơ quan sinh dục: Bộ phận sinh dục ngoài bình thường; Khung chậu vững; Tầng sinh môn: Không thấy tổn thương; Hậu môn: Lỗ hậu môn bình thường, các nếp hậu môn rõ, không có dịch chảy ra qua lỗ hậu môn; Chân phải không thấy sưng nề bầm tím da, sờ nắn không thấy gãy xương; Chân trái: Sây sát da mặt trước 1/3 dưới đùi kích thước 5cm x 1 cm, sờ nắn không thấy gãy xương; Ngoài các dấu vết đã mô tả không phát hiện thương tích nào khác. Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Ngọc T giám định: Không tìm thấy Ethanol, các chất ma túy.

2. Kết luận nguyên nhân chết: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.

Tại bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 66/KLTTHS - TTPY ngày 04/09/2024 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận: Căn cứ vào giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đa khoa Đức Giang ngày 08/08/2024 và sao y Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 số bệnh án: 24B11000216: Nạn nhân Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 1960, tử vong do: Chấn thương sọ não nặng kèm chấn thương hàm mặt./.

Xác định dấu vết va chạm:

Tại bản kết luận giám định số: 787/KL-KTHS ngày 21/02/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

"1. Dấu vết va chạm giữa xe môtô biển số 22F1-419.75 với xe môtô biển số

29K1-096.51: Dấu vết trượt, bám dính chất màu đen ở mặt ngoài phía trước thanh kim loại phía dưới bên phải khung kim loại đỡ giỏ đèo hàng trước xe môtô biển số 22F1-419.75 có chiều từ trước về sau (ảnh 7 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, mất chất màu đen ở mặt ngoài phía trên cánh yếm bên phải xe môtô biển số 29K1-096.51 (ảnh 8 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm ở xe môtô biển số 29K1-096.51 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

2. Không xác định được dấu vết va chạm đầu tiên giữa xe môtô biển số 22F1-419.75 với xe môtô biển số 29K1-096.51."

Về an toàn kỹ thuật phương tiện:

Tại bản kết luận giám định số: 1334/KL-KTHS ngày 29/03/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

“Hệ thống phanh, hệ thống lái, đèn của 02 xe mô tô gửi giám định như sau:

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, đeo biển kiểm soát 29-K1 096.51;

+ Hệ thống phanh còn hoạt động và hãm dừng được bánh xe;

+ Hệ thống lái đầy đủ chi tiết, còn liên kết và đánh lái sang hai bên bình thường;

+ Hệ thống đèn đầy đủ chi tiết, lắp đặt đúng vị trí và còn hoạt động được.

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, đeo biển kiểm soát 22-F1 419.75;

+ Hệ thống phanh còn hoạt động và hãm dừng được bánh xe;

+ Hệ thống lái đầy đủ chi tiết, còn liên kết và đánh lái sang hai bên bình thường;

+ Hệ thống đèn đầy đủ chi tiết, lắp đặt đúng vị trí và còn hoạt động được

Tại Công văn số 655/SGTVT-VTPT&NL ngày 19/04/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang cung cấp: “Sở giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang không cấp giấy phép lái xe mô tô hai bánh hạng A1 cho Ma Văn P, sinh ngày 09/5/2001, địa chỉ: xã Phúc T, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.”

Tại phiếu kết quả xét nghiệm sinh hoá máu đối với Ma Văn P tại thời điểm xét nghiệm là 07 giờ 08 phút ngày 17/01/2024 và phiếu kết quả xét nghiệm nước tiểu tại thời điểm xét nghiệm 07 giờ 17 phút ngày 17/01/2024 của Bệnh viện đa khoa Đức Giang xác định: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Ma Văn P là 209,4mg/100ml máu; Âm tính với các chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số 301/CT-VKS ngày 27/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã truy tố Ma Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại P tòa:

Bị cáo Ma Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và khẳng định không bị oan. Bị cáo khai đã tác động gia đình bồi thường dân sự cho gia đình bị hại Nguyễn Ngọc T.

Đại diện hợp pháp cho bị hại là chị Nguyễn Thị Thu H có đơn xin vắng mặt tại P tòa nhưng đều có lời khai xác nhận đã nhận được số tiền bồi thường dân sự của bị cáo Ma Văn P là 200.000.000đồng, đã nhận lại xe máy và các giấy tờ liên quan của ông Nguyễn Ngọc T. Gia đình chị không còn yêu cầu bồi thường gì khác và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại P tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo P về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Thái độ khai báo của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại P tòa là thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 3-4 năm tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự và tang vật: Đã giải quyết xong.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, VKS truy tố bị cáo là đúng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại P tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại P tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Ma Văn P tại P toà phù hợp với lời khai của tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, đại diện hợp pháp cho bị hại, bản kết luận giám định, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, tại trước cửa số nhà 311 đường Ngô Gia T, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Ma Văn P không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển khiển xe mô tô mang BKS: 22F1-419.75 đi ngược chiều đường Ngô Gia T, theo hướng cầu Chương Dương đến Cầu Đuống khi đã sử dụng rượu trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, thiếu chú ý quan sát (vi phạm Khoản 8, 9, 23 Điều 8, Khoản 1 Điều 9 và Khoản 1 Điều 11 Luật giao thông đường bộ 2008) để xảy ra va chạm với xe mô tô mang BKS: 29K1-096.51 do ông Nguyễn Ngọc T điều khiển đi đúng chiều đường, làn đường gây hậu quả ông T tử vong do chấn thương sọ não nặng kèm chấn thương hàm mặt. Hành vi của Ma Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vụ tai nạn giao thông xảy ra do lỗi hoàn toàn của Ma Văn P, ông T không có lỗi.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại P tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường dân sự, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, gia đình bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, ông bị cáo là người có công với cách mạng vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn thuộc vì bị cáo nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình HĐXX cũng xem xét giảm nhẹ một phần đáng kể hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên.

Về dân sự: Đại diện hợp pháp cho bị hại và bị cáo đã thỏa thuận xong về bồi thường dân sự và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không giải quyết.

Về biện pháp tư pháp: Xe mô tô mang BKS: 29K1- 096.51 đăng ký mang tên ông Nguyễn Ngọc T. Cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho đại diện gia đình nạn nhân là chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1988, HKTT: phường Ngọc L, Long Biên, Hà Nội. Chị H không yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự liên quan đến xe mô tô BKS: 29K1-096.51. Xe mô tô mang BKS: 22F1- 419.75 đăng ký mang tên bà Lèng Thị N. Cơ quan CSĐT – Công an quận Long Biên ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bà Niệu. Sau khi nhận được xe, Bà Niệu không có yêu cầu gì nên HĐXX không giải quyết.

Đối với việc Ma Văn P điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe bà Niệu không biết và không giao xe cho P do đó cơ quan điều tra không xử lý về hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” đối với bà Niệu là có căn cứ.

Hai xe mô tô biển kiểm soát 22F1-419.75 và 29K1-096.51 không có bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự nên không xem xét vấn đề dân sự liên quan Cơ quan bảo hiểm. Việc không có bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc vi phạm điểm a khoản 2 điều 21 nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ nhưng do đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên cơ quan có thẩm quyền không tiến hành xử lý là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Ma Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Ma Văn P 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2024.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ