vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn P phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Văn P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Tạ Văn P cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn Phát - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn P phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Luật giao thông đường bộ; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2025/HS-ST
Ngày: 19 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Út Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Thu Trang và bà Hoàng Thị Thào

- Thư ký phiên toà: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS, ngày 19 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Tạ Văn P, sinh ngày 01/02/1989 tại huyện T, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn X và bà Vũ Thị L; Vợ: Nông Thị Thùy H; con: 03 (lớn 2017, nhỏ 2025); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1988; (Đã chết)

- Cháu Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 2016; (Đã chết)

Đều có nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1979 (anh trai bị hại Hoàng Thị H1); Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Hà Văn S, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 14 tháng 12 năm 2024, Tạ Văn P (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03 chở đá xay 1-2 đi theo tuyến đường mới thành phố B - B để đi lên xã Đ, huyện B. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi đến đoạn đường K+350 ĐT257B thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, lúc này P điểu khiển xe ô tô đang xuống dốc thì phát hiện chị Hoàng Thị H1 điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 20C-381.34 di chuyển theo hướng ngược lại, trên xe chở theo con gái Nguyễn Hoàng L1. Khi gặp xe mô tô do chị Hoàng Thị H1 điều khiển ngược chiều và đang lên dốc, Tạ Văn P thấy chị H1 điều khiển xe mô tô đi trên lề đất và đã đi qua phần đầu của xe ô tô do P điều khiển nên P nghĩ đủ khoảng cách để xe mô tô có thể di chuyển qua được do vậy đã không đánh lái xe ô tô về bên phải đường để tránh và cũng không dừng xe ô tô lại để nhường đường cho xe mô tô đang lên dốc mà vẫn điều khiển xe ô tô đi thẳng khiến xe mô tô do chị H1 điều khiển khi tránh xe ô tô do P điều khiển phải đi trên lề đường đất và bị đổ ra đường làm chị H1 và cháu L1 ngã ra phía lòng đường, sau đó bị lốp sau bên lái của xe ô tô do Tạ Văn P điều khiển đè lên người. Hậu quả: Chị Hoàng Thị H1 và cháu Nguyễn Hoàng L1 tử vong tại chỗ; xe mô tô bị hư hỏng. Sau khi sự việc xảy ra, Tạ Văn P đã trình báo công an xã Đ, huyện B. Cơ quan chức năng đã tiến hành tiếp nhận vụ việc, đồng thời tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm chất ma túy đối với Tạ Văn P, kết quả đều âm tính.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra tai nạn tại Km21+350 đường tỉnh 257B thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Mặt đường dốc xuống theo hướng xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đi xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đoạn đường không có biển cảnh báo, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường nhựa đã bị hư hỏng một phần. Mặt đường rộng trung bình 3,7 mét, mặt đường nơi ô tô đỗ khi khám nghiệm hiện trường rộng 3,85 mét, mặt đường nơi xe mô tô đỗ rộng 3,57 mét. Lấy mép đường bên trái làm mép đường chuẩn, lấy cột KmH4/21 làm mốc chuẩn 1, lấy cột điện H2A/NAM-7BV65I làm mốc chuẩn 2. Lề đường bên trái hướng xã B, huyện C đi xã Q, huyện B là đất đá gồ ghề, lồi lõm, không bằng phẳng, lề đường bên trái rộng trung bình 0,8 mét, tiếp giáp là mương nước, mặt rộng nhất là 1,10 mét, mặt hẹp nhất là 0,3 mét, cao 0,5 mét. Lề đường bên trái vị trí xe mô tô đổ rộng 1,1 mét, lề phải rộng 1,15 mét; Lề đường bên trái vị trí ô tô đỗ khi khám nghiệm hiện trường rộng 1,00 mét, lề phải rộng 1,20 mét. Lề đường bên phải rộng trung bình 1,20 mét. Từ vị trí hình chiếu trục trước xe mô tô hướng về xã B, huyện C 09 mét có lề đường bên phải rộng 2,00 mét, lề đường bên trái rộng 0,9 mét, mặt đường rộng 4,4 mét. Tại hiện trường phát hiện các vị trí xe mô tô, xe ô tô, tử thi, vị trí người làm chứng và các dấu vết được đánh số thứ tự từ vị trí (1) đến vị trí (11). Qua khám nghiệm xác định xe mô tô biển số đăng ký 20C-381.34 đổ ở vị trí số (8) làm hai nạn nhân ngã vào khoảng trống có kích thước 0,98m x 0,78m x 1,32m (khoảng cách từ bình hơi đến hai lốp sau bên lái xe ô tô là 0,98 mét, từ thành thùng xe đến khung dầm xe bên lái là 0,78 mét, từ thành thùng xe đến mặt đường là 1,32 mét); hai bánh sau bên lái của xe ô tô lăn qua hai nạn nhận. Tại vị trí xe mô tô biển số đăng ký 20C-381.34 đổ lề đường bên trái hướng xã B, huyện C đi xã Q, huyện B là đất đá gồ ghề, lồi lõm, không bằng phẳng.

Sau khi xảy ra vụ việc, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chủ trì tiến hành khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, phương tiện và trưng cầu xác định nguyên nhân chết, tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03, xe mô tô biển số đăng ký 20C-381.34, yêu cầu định giá tài sản, trưng cầu giám định ma túy trong máu và nồng độ cồn trong máu, trưng cầu giám định AND.

Kết luận giám định tử thi số 29/KLGĐTT-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Nạn nhân Hoàng Thị H1 bị đa chấn thương gây vỡ xương hộp sọ làm dập vỡ bán cầu đại não; gẫy phức tạp nhiều xương lớn; vỡ đa tạng trong ngực, bụng dẫn đến tử vong.

Kết luận giám định tử thi số 30/KLGĐTT-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Nạn nhân Nguyễn Hoàng L1 bị đa chấn thương gây gẫy nhiều xương trên cơ thể; vỡ đa tạng dẫn đến tử vong.

Kết luận giám định số 47/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:

- Giám định an toàn kỹ thuật xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03:

+ Hệ thống lái điều khiển hướng di chuyển; hệ thống phanh hãm bánh lốp trước bên lái; phanh hãm bánh lốp sau đảm bảo an toàn kỹ thuật để vận hành.

+ Phanh hãm lốp trước bên phụ không đảm bảo an toàn kỹ thuật để vận hành.

- Xe mô tô Honda Blade biển số đăng ký 20C-381.34 đảm bảo an toàn kỹ thuật để vận hành.

Kết luận giám định số 2319/PY-XNĐH ngày 30/12/2024 của V đối với nồng độ cồn và ma túy trong mẫu máu của chị Hoàng Thị H1 kết luận: Không tìm thấy E, không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của chị Hoàng Thị H1.

Kết luận giám định số HT732.24/PY-XNXH ngày 31/12/2024 của V đối với mẫu máu thu tại vị trí lốp sau bên lái của xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03, kết luận: Mẫu nghi máu thu tại vị trí lốp sau bên lái của xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03 là máu người, có AND nhiễm sắc thể thường trùng khớp với AND nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của chị Hoàng Thị H1, không trùng khớp với AND nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Nguyễn Hoàng L1.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 03/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự kết luận: Các bộ phận hư hỏng của xe mô tô Honda Blade biển số đăng ký 20C1-381.34 tại thời điểm định giá ngày 14/12/2024 có giá trị là 185.000 đồng (Một trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 03/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự kết luận: Các bộ phận hư hỏng của điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y21S, mua vào đầu năm 2023, điện thoại đã bị hư hỏng toàn bộ tại thời điểm định giá ngày 14/12/2024 có giá trị là 1.295.070 đồng (Một triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn không trăm bảy mươi đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra xác định những người đại diện hợp pháp của các bị hại đã chết gồm: Anh Nguyễn Văn K1 – chồng của chị H1 và bố đẻ của cháu L1; Ông Hoàng Văn C – bố đẻ chị H1; Bà Đàm Thị T – mẹ đẻ chị H1. Ngày 22/12/2024, những người đại diện hợp pháp của bị hại nêu trên đã ủy quyền cho anh Hoàng Văn K – là anh trai của bị hại H1 để đại diện tham gia tố tụng.

Trong giai đoạn điều tra, Tạ Văn P đã bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 380.500.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với phần hư hỏng của chiếc xe mô tô biển số đăng ký 20C1-381.34 và điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y21S của chị Hoàng Thị H1, gia đình bị hại không yêu cầu Tạ Văn P phải bồi thường. Xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03 có mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự nhưng bị cáo không yêu cầu giải quyết.

Bản Cáo trạng số 10/CT-VKSBB ngày 16/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Tạ Văn P về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo Tạ Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Tạ Văn P theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn P phạm tội:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Tạ Văn P 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 380.500.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với phần hư hỏng của chiếc xe mô tô biển số đăng ký 20C1-381.34 và điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y21S của chị Hoàng Thị H1, gia đình bị hại không yêu cầu Tạ Văn P phải bồi thường. Xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03 có mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự nhưng bị cáo không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đối với các nội dung trên.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng như sau:

+ Trả lại cho bị cáo Tạ Văn P: 01 xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 giấy phép lái xe hạng C số 030126000890 mang tên Tạ Văn P; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Pro max; 01 Giấy chứng nhận kiểm định.

+ Trả lại cho anh Nguyễn Văn K1: 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô xe máy điện số GCNBH: 24XM 240996914; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số đăng ký 20C1-381.34; 01 giấy phép lái xe số AN677171 mang tên Hoàng Thị H1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 20 007051 mang tên Nguyễn Văn K1; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y21S (đã hỏng).

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại nhất trí với điều luật, tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể đã đề nghị, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất vì bị cáo là lao động chính trong gia đình gồm có vợ và 03 con (lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất là 06 tháng tuổi).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Xét thấy, họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, tại đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thể hiện rõ yêu cầu liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong vụ án; việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:

Lời khai nhận tội của bị cáo Tạ Văn P tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 15 giờ ngày 14/12/2024, tại Km21+350 ĐT 257B thuộc địa phận thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Tạ Văn P khi điều khiển xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03 chở đá xay 1-2 đang xuống dốc thì gặp xe mô tô biển số đăng ký 20C-381.34 do chị Hoàng Thị H1 điều khiển chở theo cháu Nguyễn Hoàng L1 đi ngược chiều đang lên dốc. Khi gặp xe mô tô do chị Hoàng Thị H1 điều khiển, Tạ Văn P thấy chị H1 điều khiển xe mô tô đi trên lề đất và đã đi qua phần đầu của xe ô tô do P điều khiển nên P nghĩ đủ khoảng cách để xe mô tô có thể di chuyển qua được do vậy P đã không đánh lái về phía bên phải đường để tránh và cũng không dừng xe lại để nhường đường cho xe đang lên dốc mà vẫn điều khiển xe ô tô đi thẳng khiến xe mô tô do chị H1 điều khiển khi tránh xe ô tô do P điều khiển phải đi trên lề đường đất và bị đổ ra đường làm chị H1 và cháu L1 ngã ra phía lòng đường, bị lốp sau bên lái của xe ô tô do Tạ Văn P điều khiển đè lên người chị H1 và cháu L1. Hậu quả: Chị Hoàng Thị H1 và cháu Nguyễn Hoàng L1 tử vong tại chỗ; xe mô tô bị hư hỏng.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do chủ quan, không tuân thủ đúng quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ trong tình huống“Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình”;“Xe xuống dốc phải nhường đường cho xe đang lên dốc” - vi phạm khoản 23 Điều 8; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 17 Luật giao thông đường bộ; hậu quả rất nghiêm trọng làm 02 người chết nên phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

………….

đ) Làm chết 02 người;”

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" về hành vi phạm tội của mình, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình các bị hại Hoàng Thị H1, Nguyễn Hoàng L1 với tổng số tiền 380.500.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu năm trăm nghìn đồng) nên bị cáo được hưởng tình tiết“Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Ngoài ra, bị cáo có bác ruột là Tạ Xuân S1 là Liệt sĩ, gia đình bố mẹ đẻ của bị cáo trực tiếp thờ cúng. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm hình sự:

- Hình phạt chính: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông, gây hậu quả nghiêm trọng nên phải chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng; Bị cáo là lao động chính trong gia đình có vợ và 03 con nhỏ (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2025). Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể đề nghị xem xét là có căn cứ, thể hiện sự khoan hồng và bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật để phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định“Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, sử dụng xe ô tô chở hàng để kiếm thu nhập nuôi gia đình; trong quá trình điều tra đến thời điểm xét xử, bị cáo đã bị tạm giữ giấy phép lái xe với thời gian khoảng 06 tháng, đủ để bị cáo ổn định tinh thần nếu tiếp tục tham gia giao thông. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền là 380.500.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Trong các giai đoạn tố tụng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với phần hư hỏng của chiếc xe mô tô biển số đăng ký 20C1-381.34 và điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo Y21S của chị Hoàng Thị H1, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03 có mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự nhưng bị cáo không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét đối với các nội dung trên.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:

+ Đối với những vật chứng thu giữ của bị cáo Tạ Văn P gồm: 01 xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 giấy phép lái xe hạng C số 030126000890 mang tên Tạ Văn P; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Pro max; 01 Giấy chứng nhận kiểm định; những tài sản, đồ vật trên không phải là phương tiện phạm tội, không phải là tài sản do phạm tội mà có, bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường, không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo các tài sản, đồ vật nêu trên.

+ Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Hoàng Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là chồng của bị hại Hoàng Thị H1 là anh Nguyễn Văn K1 đều đề nghị cho anh Nguyễn Văn K1 được nhận lại những tài sản, đồ vật liên quan đến bị hại đang tạm giữ trong vụ án.

Hội đồng xét xử trả lại cho anh Nguyễn Văn K1: 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô xe máy điện số GCNBH: 24XM 240996914; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số đăng ký 20C1-381.34; 01 giấy phép lái xe số AN677171 mang tên Hoàng Thị H1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 20 007051 mang tên Nguyễn Văn K1; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y21S (đã hỏng).

Vấn đề khác: Tạ Văn P điều khiển xe tô tô chở quá khối lượng hàng hóa cho phép khi tham gia giao thông là 8.475kg bằng 112,25%; Xe ô tô 19C-130.03 của bị cáo Tạ Văn P có kích thước thùng xe không đúng thiết kế của nhà sản suất; Tạ Văn P không làm thủ tục đăng ký chuyển tên chủ xe đối với Giấy đăng ký xe sang tên của mình theo quy định khi mua xe ô tô. Ngày 24/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra văn bản đề nghị phòng C1 Công an tỉnh B xử lý vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 23 Điều 8; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 17 Luật giao thông đường bộ; Điều 106, Điều 136, Điều 331 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn P phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Văn P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Tạ Văn P cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Tạ Văn P: 01 xe ô tô biển số đăng ký 19C-130.03; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 giấy phép lái xe hạng C số 030126000890 mang tên Tạ Văn P; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Pro max; 01 Giấy chứng nhận kiểm định.

- Trả lại cho anh Nguyễn Văn K1: 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô xe máy điện số GCNBH: 24XM 240996914; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số đăng ký 20C1-381.34; 01 giấy phép lái xe số AN677171 mang tên Hoàng Thị H1; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 20 007051 mang tên Nguyễn Văn K1; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y21S (đã hỏng).

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/5/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh B với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Tạ Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ