- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hồng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày: 24- 7- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thế Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Văn Sâm
2. Ông Đặng Ngọc Tân
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8- Hưng Yên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8- Hưng Yên, số A, đường Đ, xã Q, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Vũ Hồng V, sinh ngày 17/12/1990 tại xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã N, tỉnh Hưng Yên); nơi cư trú: thôn M, xã N, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thôn M, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình P (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1969; có quan hệ tình cảm với chị Vũ Thị L, sinh năm 1994 (không đăng ký kết hôn và không xác định được địa chỉ nơi cư trú) và có 01 con chung sinh năm 2011 với chị L (bị cáo đang nuôi dưỡng con chung); Tiền án: không.
Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc số 11/2023/QĐ-TA ngày 13/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, chấp hành xong ngày 17/12/2024. Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc số 18/2025/QĐ-TA ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, thời hạn 01 năm 09 tháng, chưa chấp hành Quyết định.
Bị tạm giữ từ ngày 04/4/2025 đến ngày 10/4/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Q- Trại tạm giam Công an tỉnh H.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
- Người chứng kiến:
+ Anh Đoàn Văn A, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thôn L, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình)
+ Anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thôn T, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình)
(Những người chứng kiến đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 06 giờ 45 phút ngày 04/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H) đã phát hiện trên mặt bàn trong phòng ngủ của Vũ Hồng V tại nơi cư trú có 01 túi nilong trong suốt, nẹp cài viền màu đỏ, bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt, giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,2761 gam; 01 túi nilong trong suốt được hàn kín các mép bên trong có chứa 01 viên nén màu vàng, gồm các mảnh viên nén màu vàng và chất bột màu vàng, giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,8603 gam. V khai nhận, đó là ma tuý, loại K và thuốc lắc V mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) ở khu vực bến xe thành phố B, tỉnh Đồng Nai trước đó với số tiền 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Hồng V, thu giữ và niêm phong 02 túi ma tuý trên trước sự chứng kiến của anh Đoàn Văn A và anh Nguyễn Văn V1. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Hồng V, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 08/4/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T (nay là Phòng K1 Công an tỉnh H) kết luận: Chất dạng tinh thể trong suốt là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,2761 gam; 01 viên nén màu vàng, các mảnh viên nén màu vàng và chất bột màu vàng là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,8603 gam
Bản cáo trạng số 77/CT-VKSQP ngày 24/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên) đã truy tố bị cáo Vũ Hồng V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Hồng V từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/4/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong có chứa chất ma tuý hoàn lại sau giám định.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và có lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T (nay là Cơ quan điều tra Công an tỉnh H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Hồi 06 giờ 45 phút ngày 04/04/2025, tại nơi cư trú của Vũ Hồng V ở thôn M, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là thôn M, xã N, tỉnh Hưng Yên), Vũ Hồng V có hành vi tàng trữ trái phép 0,2761 gam, loại Ketamine và 0,8603 gam, loại MDMA để sử dụng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, bị cáo Vũ Hồng V đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là đối tương nghiện ma túy, đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không nhận thức và cải tạo bản thân, vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Từ những phân tích trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định; bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích lợi nhuận. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma tuý do không xác định được danh tính của đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 02 túi nilong bên trong có chứa chất ma túy hoàn lại sau khi giám định, cần tịch thu để tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hồng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Vũ Hồng V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu để tiêu huỷ: 0,2093 gam chất dạng tinh thể trong suốt và 0,7687 gam các mảnh viên nén màu vàng, chất bột màu vàng hoàn mẫu vật gửi giám định và bao gói trong phong bì niêm phong số 334/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh T (nay là Phòng K1 Công an tỉnh H)
Vật chứng trên đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H) và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 Hưng Yên) ngày 27/6/2025.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án
Bị cáo Vũ Hồng V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - VKSND khu vực 8, tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên; - Cơ quan THA hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên; - Phân trại tạm giam khu vực Quỳnh Phụ- Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Hưng Yên; - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; - Phòng THA dân sự khu vực 8 Hưng Yên; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thế Hùng |