vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lộc Anh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Lộc Anh Đ 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/6/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Anh Đ - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày 24 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Nhâm

2. Ông Nguyễn Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Thuỵ, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quyết Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 10/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 11/9/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lộc Anh Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/9/1991, tại: xã N, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã N, tỉnh Tuyên Quang (địa chỉ cũ: Tổ dân phố K, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Chức vụ (đảng, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Lộc Văn Đ1, sinh năm 1962; Họ tên mẹ: Phùng Thị T (đã chết); Họ tên vợ: Hoàng Thị X, sinh năm 1996; Con: có 01 con sinh năm 2021; Anh, chị, em ruột: có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

+ Năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang) xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, đến ngày 25/5/2023 chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh T. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ, ngày 27/6/2025, Lộc Anh Đ, sinh năm 1991 từ nhà ở tổ dân phố K, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn K, xã N, tỉnh Tuyên Quang) đi nhờ xe máy của một người không quen biết đến khu vực Bến xe khách N thuộc tổ dân phố A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn A, xã N, tỉnh Tuyên Quang) mục đích để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bến xe khách N, Đ đi bộ ra khu vực bờ kè sông G thì gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 40 tuổi, không biết tên tuổi, địa chỉ, nhìn giống người nghiện ma túy, Đ hỏi mua ma tuý Heroine với người đàn ông này, người đàn ông đồng ý, Đ đưa cho người đàn ông đó 300.000 đồng, người đàn ông cầm số tiền 300.000 đồng và bảo Đ đứng đợi. Khoảng 05 phút sau, người đàn ông đó quay lại đưa cho Đ một gói Heroine bên ngoài là lớp nilon màu đỏ. Đ cầm gói ma tuý đi vào khu vực vắng người gần đó lấy gói ma túy ra san gạt một ít để sử dụng bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số ma tuý còn lại Đức gói lại như cũ. Sau khi sử dụng ma tuý xong, Đ cầm gói ma túy đi về. Khoảng 12 giờ 10 phút (cùng ngày) khi Đ đi đến khu vực đường H thuộc tổ dân phố D, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn D, xã N, tỉnh Tuyên Quang) thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra về tội phạm ma tuý Công an tỉnh T phát hiện, nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã yêu cầu Đ về Trụ sở Công an thị trấn Na Hang để làm việc và mời người chứng kiến, đại diện chính quyền địa phương cùng tham gia. Trong quá trình làm việc Đ đã tự nguyện giao nộp 01 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng lớp nilon màu đỏ, bên trong là lớp giấy bạc màu trắng, trong cùng có chứa chất bột màu trắng cho Tổ công tác. Đ khai nhận số chất bột màu trắng giao nộp là Heroine, cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lộc Anh Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời niêm phong 01 gói ma túy của Đ theo quy định.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 27/6/2025 đối với Lộc Anh Đ: (+) Dương tính với ma tuý.

Tại Kết luận giám định số 745/KL-KTHS ngày 30/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất bột cần giám định là chất ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng 0,228g (Không phẩy hai hai tám gam).

Vật chứng: Tạm giữ của Lộc Anh Đ 01 phong bì niêm phong có chữ ký của bị cáo và dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong là chất ma tuý, loại Heroine (H).

Cáo trạng số 09/CT-VKSKV3 ngày 09/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lộc Anh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị Lộc Anh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lộc Anh Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/6/2025.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lộc Anh Đ không có tài sản có giá trị, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn mặt trước bì có ghi “Tang vật vụ: Lộc Anh Đ, giám định ngày 27/6/2025”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký xác nhận của Lộc Anh Đ, thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong chứa ma túy Heroine có khối lượng và đặc điểm bao gói như mô tả tại biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 27/6/2025.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 17 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Tuyên Quang).

Ngoài ra đại diện Viện Kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Lộc Anh Đ đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 27/6/2025, tại đường H thuộc tổ dân phố D, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (Nay là thôn D, xã N, tỉnh Tuyên Quang), Lộc Anh Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,228g ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Lộc Anh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Lộc Anh Đ có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là người nghiện ma tuý và nhận thức rõ tác hại của ma tuý nhưng chỉ để thoả mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị Toà án xét xử hình phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, cho thấy bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Hội đồng xét xử xét nội dung buộc tội, đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên là phù hợp, cần căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản có giá trị, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; xét cần tịch thu tiêu hủy số ma tuý là Heroine thu giữ của bị cáo Đức hoàn lại sau giám định, hiện niêm phong trong 01 phong bì theo quy định.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán trái phép chất ma túy cho Lộc A Đức ngày 27/6/2025, tại khu vực đường H (Đoạn đường bờ kè sông G) thuộc tổ dân phố D, thị trấn N, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn D, xã N, tỉnh Tuyên Quang), quá trình điều tra xác minh không xác định được tên, địa chỉ, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lộc Anh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lộc Anh Đ 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/6/2025.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn mặt trước bì có ghi “Tang vật vụ: Lộc Anh Đ, giám định ngày 27/6/2025”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký xác nhận của Lộc Anh Đ, thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong chứa ma túy Heroine có khối lượng và đặc điểm bao gói như mô tả tại biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 27/6/2025.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 17 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Tuyên Quang).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lộc Anh Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2025).

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ