- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Từ Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày: 24-07-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Minh Lý
Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 07 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2025/HSST ngày 28 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Từ Trọng N, sinh năm 1993, tại tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Số căn cước công dân: 074093008968; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G, tổ G, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nơi ở hiện tại: Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Từ S và bà Nguyễn Thị Kim P; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 14/12/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 25/11/2023 chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích); bị bắt, tạm giam ngày 02/02/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 14 giờ 30 phút ngày 02/02/2025, Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của bà Nguyễn Thị Kim P về việc con của bà là Từ Trọng N có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với một người nam (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tại nơi ở của Nghĩa là nhà không số, đường P, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên Công an phường P đến làm việc và kiểm tra hành chính tại địa chỉ trên thì phát hiện và thu giữ 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 nỏ thủy tinh có đầu hình tròn bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa có nắp màu đỏ; 01 ống hút nhựa của N để tại vị trí phía trên tủ cạnh nệm trong phòng ngủ. N khai số ma túy trên là do N mua vào lúc 14 giờ ngày 02/02/2025 của một người tên Sơn H (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể), ở khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, do một người tên Phú M (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể), đến nhà N giao cho N để sử dụng, N mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, N chưa kịp trả tiền cho Sơn H thì Sơn H đến nhà N lớn tiếng, gây sự với N nên bà P gọi điện thoại báo Công an phường P. Nghe bà P điện thoại báo Công an nên đối tượng tên Sơn H bỏ đi. Một lúc sau, Công an phường P đến kiểm tra phát hiện ma túy và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/02/2025, N gọi điện thoại cho người tên S heo tại khu E, phường P, Thành phố T, tỉnh Bình Dương mục đích để mua ma túy đá, sau đó có người đàn ông tên Phú mập đến nhà N giao ma túy với giá 200.000 đồng, sau khi nhận ma túy N mang về để trong phòng ngủ nhằm mục đích sử dụng. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 02/02/2025, tại nhà không số, đường P, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an phường P kiểm tra hành chính phát hiện Từ Trọng N có hành vi tàng trữ 0,2360 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 806/KL-KTHS (MT) ngày 07/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 0,2360 gam. Mẫu vật sau giám định có khối lượng 0,1460 gam.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành xác minh trên địa bàn khu phố E và khu phố F, phường P, thành phố T không có người tên Sơn H và tên Phú M nên không xác định được đối tượng đã bán và đối tượng giao ma túy cho Từ Trọng N.
Vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H) gồm: 01 phong bì thư được niêm phong, bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng sau giám định: 0,1460 gam; 01 nỏ thủy tinh có đầu hình tròn; 01 chai nhựa có nắp màu đỏ; 01 ống hút nhựa.
Tại Cáo trạng số 99/CT-VKSTDM ngày 26/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15-Thành phố Hồ Chí Minh) đã truy tố bị cáo Từ Trọng N để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Từ Trọng N từ 2 năm 06 tháng đến 3 năm tù; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định cùng 01 nỏ thủy tinh có đầu hình tròn, 01 chai nhựa có nắp màu đỏ, 01 ống hút nhựa.
Tại phần tranh luận, bị cáo Từ Trọng N không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.
Bị cáo Từ Trọng N nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan điều tra Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15-Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Từ Trọng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15) đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng của vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định khối lượng mẫu vật, loại chất ma túy và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Ngày 02/02/2025, Từ Trọng N đã có hành vi tàng trữ 0,2360 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang tại nhà không số, đường P, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15-Thành phố Hồ Chí Minh) và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Từ Trọng N để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về nhận thức: Bị cáo Từ Trọng N biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng vì mục đích cá nhân nên bị cáo đã thực hiện; do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Loại ma túy mà bị cáo tàng trữ là M1, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Do đó, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện cần phải có hình phạt tương xứng, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt; đồng thời, để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Ngày 14/12/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 25/11/2023 chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích) theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy, tình hình các tội phạm về ma túy trên địa bàn đang diễn biến phức tạp, để có tác dụng răn đe, phòng ngừa góp phần ngăn chặn, làm giảm các tội phạm về ma túy và tội phạm hình sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp
Đối với người bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Về vật chứng của vụ án: 01 bì thư được niêm phong 806/PC09 có chữ ký của Từ Trọng N, Nguyễn Duy Long Ấ; hình dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Phòng K Công an tỉnh B. Theo Kết luận giám định số 806/KL-KTHS (MT) ngày 07/02/2025 và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại mẫu đối tượng giám định ngày 03/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh B thì bên trong có: chứa ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0.1460 gam.
01 (một) nỏ thuỷ tinh có đầu hình tròn
01 (một) chai nhựa có nắp màu đỏ
01 (một) ống hút nhựa.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 260, Điều 290, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 268 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Từ Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Từ Trọng Nghĩa 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/2/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư được niêm phong 806/PC09 có chữ ký của Từ Trọng N, Nguyễn Duy Long Ấ; hình dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Phòng K Công an tỉnh B. Theo Kết luận giám định số 806/KL-KTHS (MT) ngày 07/02/2025 và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại mẫu đối tượng giám định ngày 03/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh B thì bên trong có: chứa ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng sau giám định 0.1460 gam.
01 (một) nỏ thuỷ tinh có đầu hình tròn
01 một) chai nhựa có nắp màu đỏ
01 (một) ống hút nhựa.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 125.25 ngày 19/5/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Từ Trọng N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - CAND Tp. Hồ Chí Minh (PV06); - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 15, Tp Hồ Chí Minh; - THADS Tp. Hồ Chí Minh; - Phân trại tạm giam khu vực Thủ Dầu Một thuộc trại tạm giam số 2, Công an Thành phố Hồ Chí Minh - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP ký tên. 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thắm Biên bản kết thúc vào lúc………………. đã xem biên bản và cùng thống nhất 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn THẨM PHÁN |