vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 năm 03 tháng tù - Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tân tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH NHAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày 20 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lừ Văn Hùng, ông Nguyễn Mạnh Cường

- Thư ký phiên toà:

Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Nhai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai tham gia phiên

toà: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T - Sinh ngày 21/02/2002, tại xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ giáo dục phổ thông: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Trần Văn K và bà Trần Thị L; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, giam từ ngày 16/01/2025 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 16/01/2025, Tổ công tác Công an huyện Quỳnh Nhai làm nhiệm vụ phòng chống ma túy tại khu vực xóm 1, xã Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai đã phát hiện và bắt quả tang Trần Văn T sinh ngày 21/02/2002, trú tại bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 01 bọc nilon màu xanh, bên trong chứa 08 gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất cục bột màu trắng, Tân khai nhận đó là các gói ma túy.

Ngày 17/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Trần Văn T, kết quả: Tân dương tính với chất ma túy, đã niêm phong lại 01 que thử ma túy theo quy định.

Ngày 17/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định vật chứng đối với các cục bột màu trắng thu giữ của Trần Văn Tân. Kết quả:

"- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ nhất có khối lượng 0,05 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A1.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ hai có khối lượng 0,10 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A2.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ ba có khối lượng 0,04 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A3.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ tư có khối lượng 0,04 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A4.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ năm có khối lượng 0,06 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A5.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ sáu có khối lượng 0,05 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A6.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ bảy có khối lượng 0,04 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A7.

- Cục bột màu trắng trong gói giấy màu trắng thứ tám có khối lượng 0,05 gam, trích toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A8".

Tại Kết luận giám định số 270/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

"- Mẫu ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là A1 = 0,05 gam, A2 = 0, 10 gam, A3 = 0,04 gam, A4 = 0, 4 gam, A5 = 0, 6 gam, A6 = 0, 5 gam, A7 = 0, 4 gam, A8 = 0,05 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,43 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định".

Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận: Trần Văn T trú tại bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La hiện đang lái máy xúc tại xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Khoảng 20 giờ ngày 16/01/2025 T đi xe ôm từ xã Chiềng Ơn đến trung tâm huyện Quỳnh Nhai (nay là trung tâm thị trấn Mường Giàng) tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến nơi T xuống xe và đi bộ đến khu vực cầu thuộc xóm 1, xã Mường Giàng, tại đây gặp một người đàn ông không quen biết, T hỏi và mua được của người này 08 gói ma tuý, với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T trích lấy một phần rồi sử dụng, phần ma túy còn lại T gói lại như cũ cầm trên tay rồi đi bộ về hướng trung tâm huyện Quỳnh Nhai để bắt xe ôm quay về xã Chiềng Ơn, trên đường đi T bị Tổ công tác của Công an huyện Quỳnh Nhai bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-QN ngày 17 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai để xét xử Trần Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với người đàn ông mà T khai nhận bán ma túy cho T, quá trình điều tra do T không biết tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai không có căn cứ để mở rộng điều tra.

Đối với người đàn ông lái xe ôm chở T đến trung tâm huyện Quỳnh Nhai tìm mua ma túy, Tân không biết tên, địa chỉ cụ thể. T không nói cho người đàn ông biết việc đi tìm mua ma túy. Do đó không đặt vấn đề xử lý hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo từ 15 tháng - 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch

thu tiêu hủy các vật chứng liên quan.

Buộc bị cáo chịu án phí. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 16/01/2025; Vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 270 ngày 20/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 16/01/2025 Trần Văn Tân đã có hành vi cất giấu 08 gói ma túy, loại chất Heroine có tổng khối lượng 0,43 gam mục đích để sử dụng. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai truy tố và Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Nhai xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, mà còn ảnh hưởng sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật; răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sinh sống cùng bố mẹ; không có tài sản riêng; không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Các vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai không có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ là đảm bảo quy định.

Đối với người đàn ông lái xe ôm chở bị cáo đến trung tâm huyện Quỳnh Nhai, do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể. Bị cáo không nói cho người đàn ông biết việc đi tìm mua ma túy. Do đó không đặt vấn đề xử lý hình sự là đảm bảo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 năm 03 tháng tù - Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2025.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 08 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh.

(các vật chứng được đựng trong một phong bì được niêm phong, giấy dán niêm phong có mã số 098364).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKS-QN ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Nhai và Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/02/2025 giữa Công an huyện Quỳnh Nhai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Nhai.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/3/2025).

Cỡ chữ