- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Đỗ Thị Vương L với bị đơn anh Nguyễn Văn L1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Vương L được ly hôn với anh Nguyễn Văn L1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/02/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Thanh Vũ
Bà Lê Thị Thúy Kiều
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Vương L, sinh năm 1999 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm M, phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm V, phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 15/11/2024, nguyên đơn chị Đỗ Thị Vương L trình bày:
Chị L và anh L1 có đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/11/2017. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được và anh, chị đã ly thân với nhau từ tháng 3/2023 cho đến nay.
Về con chung: Thời gian chung sống anh, chị có một con chung tên Nguyễn Thị Kim U, sinh ngày 13/10/2016, hiện nay đang sống chung với chị L.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nay chị L yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L1.
- Về con chung: Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Kim U, sinh ngày 13/10/2016 và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Không yêu cầu xem xét, giải quyết.
2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L1: Từ khi Tòa án thụ lý đến nay, mặc dù đã được thông báo các văn bản tố tụng cho bị đơn biết về nội dung khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không tham gia việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa hôm nay nên không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn với bị đơn, đồng thời bị đơn có địa chỉ ở phường C, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Đỗ Thị Vương L vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đỗ Thị Vương L và anh Nguyễn Văn L1 tự nguyện kết hôn với nhau, tại thời điểm đăng ký kết hôn chị L và anh L1 đã đủ điều kiện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường 3, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống anh, chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách, đến tháng 3/2023 thì anh, chị đã sống ly thân với nhau.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của chị L và anh L1 đã không còn, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân của anh, chị không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giải quyết cho chị L được ly hôn với anh L1.
. Về con chung: Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Kim U, sinh ngày 13/10/2016 và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay cháu U đang sống chung với chị L, cuộc sống của cháu đang ổn định và hiện nay cháu U phát triển bình thường đồng thời cháu U có nguyện vọng ở chung với chị L. Do đó nhằm để ổn định cuộc sống cũng như tâm lý của cháu U, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Kim U, sinh ngày 13/10/2016 cho đến tuổi trưởng thành. Nên yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị L được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho anh L1 không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Chị L không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Vương L phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Vương L được ly hôn với anh Nguyễn Văn L1.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Kim U, sinh ngày 13/10/2016 cho chị Đỗ Thị Vương L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn L1 không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Vương L phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Đỗ Thị Vương L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007266 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, chị L đã nộp đủ tiền án phí. Anh Nguyễn Văn L1 không chịu án phí.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Ngã Năm; - CCTHADS thị xã Ngã Năm; - Các đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND phường 3, TX Ngã Năm; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trúc Phương |