vanban.org

Bản án 15/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 21/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Ngọc N.

Về hôn nhân: Bà Phạm Ngọc N được ly hôn ông Heo ChangB. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Ngọc N-Heo ChangB"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Ngọc N.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 4 - 2025
(V/v Tranh chấp xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Cẩm Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Tuấn

Ông Hoàng Anh Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thuý An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc N, sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Heo ChangB, sinh ngày 20/01/1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: 10 Okcheon 7-GIL, songhak-myeon, jecheon-si, chungcheongbuk-do, Republic of Korea (Hàn Quốc).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Bà Phạm Ngọc N trình bày: Bà và ông Heo ChangB kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau vào ngày 06/10/2023. Sau khi kết hôn khoảng 10 ngày thì ông Heo ChangB trở về Hàn Quốc, trong thời gian đó giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ và văn hóa, đến ngày 13/12/2023, ông Heo ChangB nói với bà không muốn tiếp tục hôn nhân và không liên lạc cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, do không còn liên lạc nên không thể hòa giải hàn gắn. Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Heo ChangB. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn ông Heo ChangB đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, đến nay ông Heo ChangB không có văn bản phản hồi thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Ngọc N.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nguyên đơn bà Phạm Ngọc N hiện đang cư trú tại thành phố C, tỉnh Cà Mau; bị đơn ông Heo ChangB đang sinh sống tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 28, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Heo ChangB đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về thời gian mở phiên họp, hòa giải và phiên tòa nhưng ông Heo ChangB vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên đến thời điểm này, Tòa án vẫn không nhận được văn bản của Bộ Tư pháp về kết quả thực hiện việc tống đạt. Căn cứ vào các Điều 227, 228, điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Heo ChangB là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân

Hôn nhân của bà Phạm Ngọc N và ông Heo ChangB được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau vào ngày 06/10/2023 nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Phạm Ngọc N giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông Heo ChangB. Theo bà Phạm Ngọc N xác định, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ và văn hóa, từ ngày 13/12/2023 ông Heo ChangB tự chấm dứt liên lạc với bà cho đến nay. Đối với ông Heo ChangB không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Ngọc N gửi về cho Tòa án.

Xét về điều kiện thực tế, hiện nay ông Heo ChangB sống ở Hàn Quốc, còn bà Phạm Ngọc N sống tại Việt Nam, ông bà không còn giữ liên lạc với nhau, điều đó cho thấy hôn nhân của ông bà không có sự gắn kết, chia sẻ, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nên, cho bà Nên được ly hôn với ông Heo ChangB là phù hợp.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nên xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Nên phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 153, 227, 228, 469, 470, 474, 477, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Ngọc N.

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Ngọc N được ly hôn ông Heo ChangB.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Ngọc N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 11/3/2024, bà Phạm Ngọc N đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng (lai thu số 0000112) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

4. Về chi phí ủy thác tư pháp: Bà Phạm Ngọc N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Ngày 13/3/2024, bà Phạm Ngọc N đã nộp tạm ứng chi phí số tiền 200.000 đồng (lai thu số 0000115) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Ngọc N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, ông Heo ChangB được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ