vanban.org

Bản án 15/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Minh T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Minh T được ly hôn ông Bùi Quang C. Về con chung: Có 02 con chung đều đã trưởng thành. Do vậy không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tâm Chung"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 -THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/ HNGĐ - ST
Ngày 25 tháng 7 năm 2025
"V/v Tranh chấp ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Duy Chinh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy.

2. Bà Nguyễn Thị Thuý Mai.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1, Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 7 năm 2025, Tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 1, Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 177/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐST - HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Minh T, sinh năm 1972. (Có mặt).

Bị đơn: Ông Bùi Quang C, sinh năm 1966. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ B, phường Q, tỉnh Thái nguyên).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện;bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Bùi Minh T trình bày: Tôi và ông Bùi Quang C kết hôn với nhau vào năm 1991 tại UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống không thể chia sẻ, trong sinh hoạt gia đình vì vậy vợ chồng không còn tiếng nói chung. Hiện tại chúng tôi đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay và không ai còn quan tâm đến ai.

Đến nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn ông C để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Bùi Trọng H1, sinh ngày 13/4/1993 và cháu Bùi Tùng D, sinh ngày 25/10/2003. Các cháu đều đã trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Chúng tôi xin tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn ông Bùi Quang C: Tôi đăng ký kết hôn với bà Bùi Minh T, năm 1990 đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Trong qua trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm về kinh tế và cách dạy con cái dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Vợ chồng có 02 con chung: Bùi Trọng H1, sinh ngày 13/4/1993, Bùi Tùng D, sinh ngày 25/10/2003 các con đã trưởng thành. Về tài sản chung, công nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của ông C: Nhất trí ly hôn với bà Bùi Minh T.

Về con chung: Các con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã giao các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông C, tuy nhiên ông C có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, do vậy không có mặt tại các phiên hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ. Do đó phải mở phiên tòa xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, bà T giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định vì bà xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể đoàn tụ được.

Tại phiên tòa đại diện VKS phát biểu: Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX xem xét cho bà T được ly hôn ông C. Về con chung: Có 02 con chung, đều đã trưởng thành do vậy không xem xét giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết vì không yêu cầu.

Về án phí bà T phải chịu án phí theo quy định.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, Nguyên đơn, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T (nay là tổ B, phường Q, tỉnh Thái Nguyên) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1, Thái Nguyên) theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông C để tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tuy nhiên ông C có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa bà T đề nghị xét xử vắng mặt ông C, đại diện VKS đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Bùi Minh T và ông Bùi Quang C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại UBND phường Q, thành phố T (nay là phường Q, tỉnh Thái Nguyên) vào năm 1990 là cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định nên là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn là do trong cuộc sống chung không hợp nhau và phát sinh mâu thuẫn căng thẳng do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và vợ chồng đã ly thân một thời gian dài và không ai quan tâm đến ai. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn, ông C cũng xác định không còn tình cảm nhất trí ly hôn.

Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông C đã đến mức trầm trọng, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên nên cần chấp nhận đơn khởi kiện về ly hôn của bà T, cho bà T được ly hôn ông C là phù hợp với thực tế và đúng quy định tại các Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà T và ông C có 02 con chung là Bùi Trọng H1, sinh năm 1993, Bùi Tùng D, sinh năm 2003. Đều đã trưởng thành. Do đó Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các bên không yêu cầu. Toà án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227; 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Minh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Minh T được ly hôn ông Bùi Quang C.

2. Về con chung: Có 02 con chung đều đã trưởng thành. Do vậy không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản và các khoản nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Bùi Minh T phải chịu 300.000đ án phí Ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000891 ngày 02/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, Thái Nguyên).

Về quyền kháng cáo: Báo cho bà T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ