- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Hùng - VPQĐTGGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/HSST Ngày: 30-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Lan
Ông Ngô Kim Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Mạnh H; sinh năm 1954 tại tỉnh Hưng Yên; đăng ký thường trú: số 234 đường L, phường M, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nơi ở: số 56/208 đường Th, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th và bà: Nguyễn Thị C; có vợ và 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại: Bà Trần Thị T, sinh năm 1960; nơi cư trú: số 34/55 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Ngọc Ph; sinh năm 1962; nơi cư trú: số 34/55 Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (là chồng của bà Trần Thị T); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 01-2023, Nguyễn Mạnh H mua chiếc xe xích lô loại tự chế gắn động cơ điện, biển kiểm soát XL - NĐ - 0922 với giá 2.500.000 đồng để làm phương tiện chở hàng thuê. Khoảng 08 giờ ngày 09-6-2023, H được chị Vũ Thị Kh, sinh năm 1981, trú tại phường L thành phố N thuê chở 01 kệ tivi, 01 bàn học và 02 túi đồ đựng quần áo từ số nhà 216 đường G phường Tr thành phố N đến số nhà 43 Phạm Ngọc Th phường L thành phố N. H xếp số đồ dùng trên lên xe xích lô với kích thước vượt quá tH xe lần lượt chiều rộng là 30cm, chiều dài là 2,6m và chiều cao là 1,99m. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe xích lô chở số đồ dùng trên đi trên đường Ph thành phố N theo hướng từ đường Tr đến Quốc lộ 10, trong điều kiện đường Ph là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, ở giữa có vạch sơn màu vàng kẻ đứt đoạn để phân chia thành hai chiều đường riêng biệt; trời sáng, không mưa, mặt đường khô ráo, tầm nhìn không bị hạn chế; mật độ người và phương tiện tham gia giao thông bình thường. H sử dụng bàn đạp chân để đạp xe với tốc độ khoảng 10 - 15 km/h, điều khiển xe xích lô đi tại chiều đường bên phải, cách mép đường bên phải khoảng 02m. Cùng lúc này, bà Trần Thị T điều khiển xe đạp mini màu sơn trắng chở cháu ngoại là Vũ L, sinh năm 2016, cùng trú tại 34/55 Đ phường L thành phố N đi phía trước cùng chiều, cách mép đường bên phải khoảng 2,5m, với tốc độ khoảng 08 km/h và cách đầu xe xích lô do H điều khiển về phía trước khoảng 05m. Do chở hàng hóa cồng kềnh làm che khuất tầm nhìn, cản trở việc điều khiển xe nên đi qua khu vực trước cổng trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định khoảng 17m, H không quan sát thấy xe đạp do bà T điều khiển nên phần mặt trước giá kim loại nằm ngang phía trước bên trái xe xích lô, cạnh kệ tivi bằng gỗ chở trên xe xích lô xô vào chắn bùn, giá chở hàng phía sau xe đạp bà T điều khiển làm bà T bị ngã đầu đập xuống đường, cháu Lâm và xe đạp cũng bị đổ ngã ra đường. H cùng quần chúng nhân dân đưa bà T đến Bệnh viện để cấp cứu. Hậu quả: Bà T bị chấn thương sọ não: tụ máu dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện bán cầu trái, gãy xương thái dương đỉnh phải. Cháu Vũ L bị sây sát da phần mềm.
Tại hiện trường: Xe đạp mini màu trắng nằm đổ trên mặt đường Ph đầu xe hướng về mép đường đối diện mép đường chuẩn (mép đường nhựa phía bên phải đường Ph theo hướng xe đi từ đường Tr về Quốc lộ 10), đầu trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn là 3m20 cách mốc (là cạnh trong trụ cổng bên phải cổng trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định hướng từ trong trường ra) là 17m80, đầu trục bánh xe sau bên phải xe đạp cách mép đường chuẩn là 2m40, xe xích lô trên đường Ph, trên xe chờ hàng, đầu xe hướng về phía Quốc lộ 10, đuôi xe hướng về phía đường Tr. Đầu trục bánh xe phía trước bên phải cách mép đường chuẩn là 2m, đầu trục bánh xe phía sau bên phải cách mép đường chuẩn là 2m40 và cách đầu trục bánh xe phía sau bên phải xe đạp là 2m70.
Khám xe xích lô: tại mặt trước giá kim loại nằm ngang phía trước bên trái đầu xe xích lô có vết trượt làm xước mặt giá kim loại, vết có chiều từ trước về sau, vết có kích thước dài 3cm đo theo chiều ngang xe, rộng là 1,9cm đo theo chiều cao xe, điểm gần nhất cách góc phía trước bên trái đầu xe xích lô là 16cm, điểm thấp nhất cách so với mặt đất là 51,5cm, điểm cao nhất cách so với mặt đất là 51,14cm; phía trên xe xích lô chở kệ bằng nhựa màu trắng đen, bàn bằng gỗ ép màu nâu có tổng chiều dài là 165cm, rộng là 100cm, cao là 140cm. Tại mặt trước cửa kệ ở phía trước bên trái đầu xe xích lô có vết trượt làm xước và vỡ ốp nhựa mặt kệ, vết có chiều từ trước ra sau kích thước vết dài là 12cm đo theo chiều ngang xe, rộng 3cm đo theo chiều cao xe, điểm gần nhất trùng với cạnh góc phía trước bên trái của kệ, điểm cao nhất cách so với mặt đất là 63 cm, điểm cao nhất cách so với mặt đất là 66 cm. Điểm cao nhất của cả hàng và xe là 199cm, kích thước chiều ngang của hàng vượt quá thành tH xe là 30cm.
Khám xe đạp: Tại mặt sau chắn bùn và đầu ốc bắt giữ vào chắn bùn ở phía sau xe đạp có vết trượt làm xước chắn bùn và cạnh ốc trên vết còn dính chất màu nâu vết có chiều từ sau về trước. Vết có kích thước dài 7cm đo theo chiều cao xe rộng 2cm đo theo chiều ngang, điểm gần nhất cách mép cạnh phía sau và phía dưới của chắn bùn bánh sau là 14cm, điểm thấp nhất cách so với mặt đất là 46cm, điểm cao nhất cách so với mặt đất là 53cm; tại mặt sau giá kim loại chằng hàng phía sau xe đạp có vết trượt làm xước mặt giá kim loại, vết có chiều từ sau về trước, kích thước vết dài là 10cm đo theo chiều ngang xe, rộng là 0,6 cm đo theo chiều cao xe, điểm gần nhất cách cạnh giá kim loại bắt giữ giá chằng hàng phía sau với trục bánh sau bên phải xe là 6cm, điểm thấp nhất cách so với mặt đất là 68cm, điểm cao nhất cách so với mặt đất là 68,6cm.
Bản Kết luận giám định số 34/23/TgT của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y Nam Định kết luận:
1. Dấu hiệu tổn thương chính qua giám định và nghiên cứu hồ sơ, đối chiếu với Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế:
- 01 sẹo mổ kích thước lớn: 03% (bảng 1, chương 7, phần I. Mục 3);
- Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái. Chảy máu dưới nhện trong rãnh cuộn não bán cầu trái, liềm đại não, lều tiểu não hai bên, bể trước tiểu não cầu não 2 bên. Các ổ đụng dập tụ máu trong nhu mô thùy thái dương trái kèm phù não xung quanh.
Hậu quả: Liệt ½ người phải mức độ nặng: 71% (bảng 1, chương 1, phần V. Mục 2.6).
- Vỡ xương đỉnh phải lan vào cánh lớn xương bướm phải: 10% ( bảng 1, chương 1, phần I, mục 2.1).
- Gãy cung tiếp gò má phải: 08% ( Bảng 1, chương 11, phần I, mục 2).
- Vỡ xoang bướm gây tụ máu trong xoang: 08% (bảng 1, chương 12, phần II, mục 4.1).
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 79% (bảy mươi chín phần trăm).
3. Cơ chế hình thành vết thương: Chấn thương sọ não – hàm mặt do vùng đầu, mặt va đập với vật cứng gây thương tích.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Mạnh H đã bồi thường cho gia đình bà Trần Thị T số tiền 95.000.000 đồng, đại diện gia đình bà T là ông Trần Ngọc Ph, sinh năm 1962, trú tại 34/55 Đ, phường L, thành phố N (chồng bà T) đã nhận số tiền và không có yêu cầu gì.
Cháu Vũ L bị thương tích xây sát nhẹ, đại diện hợp pháp của cháu không đề nghị bồi thường.
Về vật chứng: 01 xe đạp kiểu dạng mini cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện hợp pháp của bà Trần Thị T; 01 bàn học bằng gỗ ép màu vàng kích thước (93x40)cm, 01 kệ ti vi bằng gỗ ép kích thước (165x50)cm, 02 túi nhựa đựng quần áo chở trên xe xích lô cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Vũ Thị Kh.
Chiếc xe xích lô tự chế gắn động cơ điện, màu sơn đen, biển kiểm soát XL-NĐ-0922 được nhập kho vật chứng, chuyển giao bảo quản theo quy định.
Bản Cáo trạng số 14/CT-VKSTPNĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Mạnh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Bị cáo Nguyễn Mạnh H khai nhận hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn giao thông, gây thương tích cho bà Trần Thị T như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; không giải quyết vấn đề bồi thường dân sự. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạnh H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh H, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định số 34/23/TgT của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y Nam Định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09-6-2023, tại đường Ph phường L thành phố N, Nguyễn Mạnh H điều khiển xe xích lô biển kiểm soát XL-NĐ-0922 chở hàng hóa phía trước vi phạm quy định về giới hạn chiều cao, chiều rộng và chiều dài xếp hàng hóa lên xe thô sơ nên bị che khuất tầm nhìn, cản trở việc điều khiển xe; không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước nên đã va chạm với xe đạp do bà Trần Thị T điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả làm bà T ngã đập đầu xuống đường chấn thương sọ não, tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương thích gây nên là 79%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 4 Điều 31 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải, khoản 2 Điều 5 Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-BGTVT Thông tư của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn việc sử dụng xe thô sơ, xe gắn máy…. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý do cẩu thả. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn giao thông, gây thương tích cho Trần Thị T. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường xong thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do đó, căn cứ quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 95.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: 01 xe xích lô tự chế gắn động cơ điện màu đen, biển kiểm soát XL-NĐ-0922 là tài sản của bị cáo, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trần Tế Xương thành phố N tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Mạnh H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2. Biện pháp tư pháp: Trả lại bị cáo 01 xe xích lô tự chế gắn động cơ điện màu đen, biển kiểm soát XL-NĐ-0922 nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Mạnh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là bà Trần Thị T, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người TGTT; - VKSND tp. Nam Định (02 bản); - TAND tỉnh Nam Định; - Công an tp. Nam Định; - UBND p. Trần Tế Xương; - Chi cục THADS tp. Nam Định ; - Lưu hồ sơ vụ án + VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diện |