vanban.org

Bản án 15/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm ckhoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 15/12/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2024/HSST
Ngày 19/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và ông Đoàn Ngọc Sử

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thể- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Huế - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số19/2024/TLST - HS ngày 29/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST - HS ngày 06/3/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 07/3/1982; Tại : Thôn B, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: thôn Bổng Thôn, xã Hòa Bình, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, ông Đ được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang của Hội đồng Chính Phủ ngày 14/03/1993 và Huy chương kháng chiến hạng nhất ngày 25/5/1985.Mẹ đẻ: Lê Thị T, Vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn) Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009; con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiề n sự : Không;

Nhân thân: Bản án số 25/2018/HSST ngày 03/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt Nguyễn Văn H 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. H chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/04/2019, nộp xong án phí ngày 26/6/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến 21/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;

( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến:1.Ông Lương Ngọc T sinh năm 1973,

Địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện Đông Hưng,tỉnh Thái Bình.

2.Bà Lê Thị H, sinh năm 1971

Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Ông T, bà H đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là người sử dụng ma túy loại Heroine. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, H đi bộ từ nhà ra trục đường thôn B rồi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến khu vực đèn tín hiệu giao thông thuộc xã M, huyện Đông Hưng, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng; khi đến nơi, H xuống xe đi bộ qua cầu Đình Thượng xã M thì gặp 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, đeo khẩu trang đang đứng ở ven đường. H lại gần và hỏi mua của người đàn ông này 200.000 đồng ma túy loại Heroine. Người này đồng ý. H đưa tiền và người này đưa cho H 01 gói nhỏ ma túy được gói bằng giấy kim loại trắng. H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay lại khu vực đèn tín hiệu giao thông thuộc xã M tìm người để đi nhờ xe về nhà; khi H đang đi bộ trên trục đường thôn L, xã M, huyện Đông Hưng thì bị tổ công tác Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã M yêu cầu dừng lại kiểm tra vì có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. H chấp hành và tự nguyện đưa ra từ lòng bàn tay phải 01 gói nhỏ được gói bằng giấy kim loại màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an trước sự chứng kiến của ông Lương Ngọc T và bà Lê Thị H. Tổ công tác tiến hành kiểm tra bên trong gói nhỏ có chứa chất bột màu trắng dạng cục, H khai đó là ma túy Heroine, H mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói ma túy trên, sau đó yêu cầu H và mời hai ngườ i chứ ng kiế n về Uỷ ban nhân dân xã M, huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình lậ p biên b ản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H tại thôn B, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình không thu giữ đồ vâ, tài lị t ệu gì.

Kết luận giám định số 1794/KL - KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2117 gam (Không phẩy hai nghìn một trăm mười bảy gam) (Bút lục số 32).

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 20/CT-VKSĐH ngày 28/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.

Tại phiên tòa: Bị cáo H xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Khi nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạngsố 20/CT-VKSĐH ngày 28/02/2024của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng;Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng lập hồi 08 giờ 20 phút ngày 15/12/2023 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã M; Các biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng lập cùng ngày 15/12/2023 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã M; Bản kết luận giám định số 1794/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của những người chứng kiến là ông Lương Ngọc T, và bà PhạmThị H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,2117 gam ma túy loại heroine, mục đích để sử dụng bị Công an huyện Đông Hưng phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vàotội:“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy

1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

....

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bản thân là người có nhân thân xấu, đã từng phải đi cải tạo về tội tàng trữ ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng mét møc ¸n tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ là người có công với nhà nước nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, là lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng:Số ma túy loại heroine, thu giữ của bị cáo là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định

Về nguồn gốc số ma túy H khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, đeo khẩu trang đứng ở ven đường khu vực gần cầu Đình Thượng thuộc địa phận xã L, huyện Đông Hưng. Cơ quan điều tra không xác định được nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Về nguồn gốc số tiền 200.000 đồng dùng vào việc mua ma túy là do bị cáo lao động mà có nên không truy thu.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm ckhoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 15/12/2023).

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1794/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, bên trong có chứa 0,1074 gam ma túy loại heroine,có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 29/02/2024.

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, ngày 19/3/2024.

Cỡ chữ