vanban.org

Bản án 15/2024/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và kháng cáo

của đại diện người bị hại, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 152/2023/HSST ngày 31.7.2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội về tội danh, điều luật và hình phạt, cụ thể: Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 36 ( ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và kháng cáo
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
_____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15 /2024/HSPT
Ngày: 16.01.2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Lê Anh Tuấn

Các Thẩm phán:

Ông Mai Văn Quang

Bà Đặng Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên toà:

Bà Phạm Thị Thùy Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà

Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 921/2023/HSPT ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 152/2023/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội:

- Bị cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992; Hộ khẩu thường trú: thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đảng thể): không; Con ông: Nguyễn Văn K, con bà: Dương Thị T; Vợ: Lù Thị Đ1, có 01 con; Theo danh chỉ bản số 255 lập ngày 02/6/2023 tại Công an huyện S thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo tại ngoại, Có mặt.

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 (Mất ngày 03/11/2022).

Người đại diện theo pháp luật cho bà H là chị Dương Thị N, sinh năm 1989. Địa chỉ: thôn G, xã M, huyện S , TP .. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ là Luật sư Nguyễn Văn N1 và Luật sư Ngô Thành B - thuộc Chi nhánh Công ty L2 tại Hải Phòng. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H:

+ Ông Phạm Văn V - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố H - Chi nhánh Công ty L3. Có mặt.

+ Bà Bùi Thị M và ông Nguyễn Minh L - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố H - Công ty L4. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Dương Văn C, sinh năm 1969. Có mặt.

+ Chị Dương Thị N, sinh năm 1989. Có mặt.

+ Chị Dương Thị H1, sinh năm 1992. Có mặt.

+ Chị Dương Thị V1, sinh năm 1996. Vắng mặt.

+ Anh Dương Văn L1, sinh năm 1997. Có mặt.

Đều địa chỉ: thôn G, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội.

+ Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1935. Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 là anh Nguyễn Minh H2. Địa chỉ: thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông C, chị H1, chị V1, anh L1 là chị Dương Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 01/11/2022, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS: 29S6-

545.91 đi từ hồ cá của anh Dương Văn T2, sinh năm 1991 ở thôn T, xã M, huyện S (là nơi Đ đang làm thuê) đến quán ăn L5 ở thôn P, xã M, huyện S để ăn trưa tại quán. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô BKS: 29S6-545.91 đi một mình về nhà, với tốc độ khoảng 50km/h trên đường liên xã M-M chiều đường A đi về hướng chùa T6. Khi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện S thì phát hiện có 01 xe ô tô con màu trắng dừng trên phần đường bên phải theo chiều đường 14 hướng chùa T6 khu vực trước cổng nhà ông Dương Văn H3. Khi xe mô tô do Đ điều khiển, cách vị trí xe ô tô đỗ khoảng 60m đến 70m thì Đ điều khiển xe mô tô di chuyển sang phần đường dành cho các phương tiện đi chiều ngược lại để tránh xe ô tô nên đã đâm vào bà Nguyễn Thị H đang đi bộ từ bên phải phía trước đầu xe ô tô con màu trắng sang bên trái đường theo chiều xe mô tô do Đ điều khiển. Hậu quả: xe mô tô BKS: 29S6-545.91 bị đổ nghiêng bên phải và bị rê về phía trước khoảng 02m, bà H bị hất văng, ngã ra đường, bị thương tích nặng, được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện V2 đến ngày 03/11/2022 thì tử vong tại nhà riêng. Nguyễn Văn Đ bị thương nhẹ, được anh Dương Văn T3 (bạn Đ) đưa đi khám tại Bệnh viện Đ2.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện S tiến hành khám

nghiệm hiện trường vụ tai nạn xác định:

- Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường người dân và các phương tiện

tham gia giao thông đã đi vào khu vực hiện trường; xe mô tô BKS: 29S6-545.91 đã được dựng lên và gửi vào nhà người dân ở gần đó.

- Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường được thảm nhựa nhẵn, phẳng rộng

05m50, đường có hai chiều, giữa đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng chia đường thành 2 chiều đi riêng biệt; trên đường không có hệ thống biển báo.

- Đã tiến hành ghi nhận dấu vết để lại trên hiện trường và đánh số thứ tự

như sau: (1) là vết cày trên mặt đường đo dài 02m50; (2) là vị trí xe mô tô BKS: 29S6-545.91; (3) là vùng dung dịch màu đỏ (nghi là máu), kích thước 00m10 x 00m15; (4) là vùng dầu loang kích thước 00m50 x 00m40.

- Điểm mốc của vụ tai nạn: là mép cổng bên phải nhà ông Dương Văn H3

theo chiều từ nhà ra đường liên xã M; lấy mép đường nhựa bên trái theo chiều đường 14 hướng chùa T6 làm chuẩn; lấy hướng đường 14 đi chùa T6 làm hướng chuẩn để khám nghiệm.

- Mô tả vị trí phương tiện và dấu vết.

+ Vết cày (1) trên mặt đường nhựa đo dài 02m50, vết cày làm lộ rõ lớp bê

tông mới, vết cày có dạng đường thẳng liền và có chiều đường 14 đi chùa T6, từ bên trái sang bên phải đường theo hướng chuẩn. Vết cày nằm trong chiều đường chùa T6 hướng đường 14. Từ đầu vết cày đo vào mép đường chuẩn là 01m80, cuối vết cày đo vào là 02m05. Từ cuối vết cày đo về hướng chùa T6 00m50 là vị trí tâm trục bánh sau xe mô tô BKS: 29S6-545.91.

+ Vị trí xe mô tô BKS: 29S6-545.91 (2): dựng trong sân nhà nhà ông H3,

đầu xe hướng chếch bên phải đường về chùa T6, đuôi xe hướng chếch bên trái đường về đường 14 theo hướng chuẩn. Từ tâm trục bánh sau xe mô tô đo vào mép đường chuẩn là 20m50, tâm trục bánh trước đo vào là 21m70. T4 trục bánh sau xe mô tô trùng với tâm vùng dung dịch màu đỏ (nghi là máu).

+ Vùng dung dịch màu đỏ (3) để lại trên lề đường bên trái theo hướng

chuẩn, kích thước 00m10 x 00m15. T4 vùng dung dịch đo vào mép đường chuẩn là 01m10, từ tâm vùng dung dịch (3) đo về hướng chùa T6 00m50 là vị trí tâm vùng dầu loang trên mặt đường nhựa.

+ Vùng dầu loang (4) trên mặt đường nhựa có kích thước 00m50 x

00m40. Từ tâm vùng dầu loang đo vào mép đường chuẩn là 03m05. Từ tâm vùng dầu loang đo về hướng chùa T6 00m50 là vị trí mép cổng bên phải nhà ông Dương Văn H3.

Ngày 25/11/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành dựng lại hiện trường vụ

tai nạn giao thông nêu trên tại đường liên xã M-M (trước cổng nhà ông Dương Văn H3), thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện S. Kết quả dựng lại hiện trường xác định: Vị trí xe mô tô BKS: 29S6-545.91 đổ nghiêng phải trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng chếch bên trái đường hướng về chùa T6, đuôi xe hướng chếch bên phải đường hướng 14. Từ hình chiếu tâm trục bánh trước xe mô tô BKS: 29S6-545.91 đo vào mép đường chuẩn là 02m60, tâm trục bánh sau đo vào là 03m35. T4 trục bánh trước xe mô tô BKS: 29S6-545.91 trùng với mép cổng bên phải nhà ông H3. Các vị trí dấu vết khác phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường ban đầu.

Ngày 01/12/2022, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra hệ thống biển

báo giao thông tại khu vực đầu ngã tư đường rẽ vào thôn T, xã M. Kết quả xác định: Bên phải đầu đường vào đường liên xã thuộc thôn T chiều đường A hướng xã M không cắm biển báo giao thông đường bộ.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu thập được 02 đoạn video clip

liên quan đến vụ tai nạn giao thông:

+ Đoạn video 01 dài 34 giây ghi lại diễn biến vụ tai nạn theo chiều đường

14 hướng chùa T6. Thời gian hiển thị tại camera từ 15:08:02 đến 15:08:36 ngày 01/11/2022 do camera nhà anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1990 ở thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Tuyên Quang (là chủ quán điện thoại Linh A ở gần hiện trường nơi xảy ra vụ án) ghi lại.

+ Đoạn video 02 dài 02 phút 37 giây ghi lại diễn biến vụ tai nạn theo

chiều đường 14 hướng chùa T6. Thời gian hiển thị tại camera từ 15:09:39 đến 15:12:16 ngày 01/11/2022 do camera cửa hàng của anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1993 ở thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Tuyên Quang (là chủ quán cắt tóc ở gần hiện trường nơi xảy ra vụ án) ghi lại.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định 02 đoạn video nêu

trên. Ngày 28/3/2023, V3 Bộ C2 có kết luận số 7893 giám định đối với 02 tệp video thu giữ (BL 69-73), kết quả như sau:

+ Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02

tệp video mẫu cần giám định;

+ Không xác định được tốc độ xe mô tô ngay trước thời điểm xảy ra va

chạm với người bộ hành trong tệp video;

+ Hình ảnh trong tệp video ghi lại hình ảnh một người phụ nữ, mặc váy,

trên đầu trùm áo đi bộ từ trên vỉa hè bên tay phải so với người điều khiển xe mô tô xuống lòng đường thì bất ngờ dừng lại, đồng thời có một xe mô tô, trên xe có một người đàn ông trên đầu không đội mũ bảo hiểm, mặc áo cộc tay sáng mầu, quần dài tối mầu, đang lưu thông trên lòng đường, từ phải qua trái (theo chiều quan sát của camera). Thời điểm 15:08:23 (thời gian hiển trị trên hình ảnh), xe mô tô va chạm với người bộ hành đang đứng trên lòng đường, một số hình ảnh diễn biến trong tệp video.

* Xác minh thương tích ban đầu của bà Nguyễn Thị H tại Bệnh viện V2

(BL 80) xác định:

- Bệnh nhân vào viện hồi 17h10’ ngày 01/11/2022 tại khoa cấp cứu trong

tình trạng hôn mê, Glassgo 06 điểm; đồng tử hai bên giãn, phản xạ ánh sáng yếu, hàm mặt xây sát.

- Tình trạng thương tích: Bệnh nhân đa chấn thương, chấn thương sọ não,

dập não chảy máu dưới nhện bán cầu phải, phù não nhiều, trật khớp khuỷu tay trái.

- Kết quả chuẩn đoán: Bệnh nhân được phẫu thuật mổ lấy máu tụ dưới

màng cứng, cấp tính cần máu giải tỏa não, trong mổ thấy não đập kém; gửi huyết xương sọ tại ngân hàng mổ. Tiên lượng tử vong cao. Bệnh nhân hiện tại thở máy không tiếp xúc được, G 3 điểm.

Ngày 03/11/2022 bà H tử vong tại nhà riêng. Cơ quan điều tra đã quyết

định trưng cầu giám định đối với tử thi bà H. Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1611 ngày 28/11/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y (BL 62-68) kết luận:

- Đầu – Mặt:

+ Bầm tím da mắt phải KT (6 x 2) cm;

+ Bầm tím da mắt trái KT (3 x 0,5) cm;

+ Sây sát, bầm tím da rải rác vùng trán phải KT (8 x 8) cm

+ Vùng trán đỉnh thái dương phải có vết mổ còn chỉ khâu KT (29x1) cm;

+ Khuyết xương vùng thái dương phải;

+ Bầm tím da vùng mặt trước vành tai trái, tai trái, thái dương trái và

chẩm trái KT (17x 10)cm;

+ Hai lỗ tai có máu khô;

+ Hai lỗ mũi, miệng có dịch hồng chảy ra;

+ Cung răng chắc, không gẫy răng;

- Cổ vững

- Ngực vững

- Bầm tím da ngực phải KT (14x10) cm;

- Bầm tím da ngực trái KT (3x2) cm và (1 x 1) cm

- Tay phải: Bầm tím da rải rác mặt trước cẳng tay KT (20x22) cm

- Tay trái:

+ Bầm tím da cánh tay KT (17x20) cm

+ Sây sát, bầm tím da mặt sau ngoài khuỷu tay KT (10x10) cm

+ Bầm tím da mu bàn tay KT (10x2) cm

- Bầm tím da nếp bẹn trái KT (2x1) cm. Trên vết bầm tím da này có vết

thủng da KT (0,1 x 0,1) cm (dạng dấu vết kim tiêm)

- Chân phải: bầm tím da mặt trong cẳng chân và gót chân KT (14x2)cm

- Chân trái:

+ Bầm tím da mặt ngoài 1/3 trên đùi KT (14x10)cm

+ Sây sát, bầm tím da rải rác mặt ngoài gối và cẳng chân KT (14x10) cm

Ngoài các dấu vết đã mô tả, không phát hiện thương tích nào khác.

Về phần pháp y mổ thử thi: Do gia đình bà H cương quyết từ chối nên

không thể tiến hành mổ pháp y tử thi do vậy không thể kết luận được nguyên nhân chết.

Đối với thương tích của Nguyễn Văn Đ: Công an huyện S tiến hành xác

minh tại Bệnh viện đa khoa khu vực P về việc Nguyễn Văn Đ, 30 tuổi, trú tại xã M, huyện S, Hà Nội vào khám tại khoa Ngoại chấn thương lúc 15h45’ ngày 01/11/2022, được chuẩn đoán theo dõi chấn thương sọ não/sây sát da bàn chân phải, bệnh nhân có chụp XQ, không làm bất kỳ xét nghiệm gì khác, sau đó bệnh nhân tự ý bỏ về nên cơ quan Công an không tiến hành kiểm tra nồng độ cồn của Đoàn theo quy định được (BL77, 79). Hồi 18h30’ cùng ngày, Cơ quan Công an đã đến nhà Nguyễn Văn Đ ở thôn T, xã M, huyện S làm việc với bà Dương Thị T, sinh năm 1973 (là mẹ đẻ của Đ), bà T cho biết Đ không ở nhà, bà T không biết Đ đi đâu (BL 78). Ngày 02/11/2022, Đ đã đến Công an huyện S làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, Đ khai nhận vào trưa ngày 01/11/2022 trong lúc ăn cơm, Đoàn uống 02 cốc bia nhưng vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Cùng ngày, Cơ quan Công an đã lập biên bản kiểm tra nồng độ cồn đối với Đ, kết quả: 0,000mg/l (BL 146-147).

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hình ảnh camera thu giữ tại hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 116/CT/VKS - HS ngày 20/06/2023 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Nguyễn Văn Đoàn về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2023/HSST ngày 31.7.2023 của

TAND huyện Sóc Sơn quyết định:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 38

Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 590 Bộ luật dân sự. Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy

định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

- Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho Đại diện hợp

pháp của người bị hại số tiền là 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của người bị hại được nhận số tiền 50.000.000đ do bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn Biên lai thu số AA/2020/ 0004967. Bị cáo còn phải bồi thường cho Đại diện hợp pháp của Người bị hại số tiền 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo

quy định của pháp luật.

Ngày 06 tháng 8 năm 2023 bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo đề nghị giảm

nhẹ hình phạt.

Ngày 07/8/2023, chị Dương Thị N kháng cáo toàn bộ bản án đề nghị xử

bị cáo theo khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự; tăng nặng hình phạt và trách nhiệm dân sự.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm quy kết và xin giảm

nhẹ hình phạt.

- Đại diện bị hại: Rút kháng cáo về dân sự. Đề nghị xử khoản 2 điều 260

BLHS vì có căn cứ bị cáo uống rượu bia; bị cáo không ăn năn hối cải thể hiện không thăm hỏi, bồi thường nên đề nghị tăng hình phạt.

- Luật sư bị cáo: Không có ý kiến tội danh, điều luật; đề nghị xem xét bị

hại cũng có lỗi vì sang đường nơi không có biển báo, chỉ dẫn. Đề nghị xử 24-30 tháng tù.

- Luật sư bị hại: Đề nghị xử khoản 2 điều 260 BLHS; bị cáo không ăn hối

cải hoặc có chỉ mức độ nên không được áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 BLHS; ngay cả việc áp dụng điểm b khoản 1 điều 51 BLHS cũng cần xem xét vì số tiền và cách bồi thường. Bị hại không có lỗi, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Đề nghị HĐXX tăng hình phạt.

Đại diện VKS tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về hình thức: đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận, giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung:

+ Do kết quả đo nồng độ cồn là 0,000 mg/l vì vậy không có chứng cứ bị

cáo sử dụng rượu bia nên không áp dụng khoản 2 điều 260 BLHS.

+ Bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường nên áp

dụng điểm b,s khoản 1, điều 51 BLHS. Tuy nhiên bị hại không có lỗi. Mức hình phạt phù hợp nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo và xử y án sơ thẩm.

Do đại diện bị hại rút kháng cáo về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội

đồng xét xử đình chỉ xem xét yêu cầu này. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.

Về hình thức: Đơn kháng cáo phù hợp với các Điều 331 và 333 Bộ

luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên

toà sơ thẩm, cũng như tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15h ngày 01/11/2022, tại đường liên xã M-M, huyện S, TP .,

Nguyễn Văn Đ (có giấy phép lái xe mô tô hợp lệ) điều khiển xe mô tô BKS 29S6 - 545.91 lưu thông trên trục đường liên xã M-M, theo chiều đường 14 hướng đi chùa T6. Khi đi đến khu vực thôn T, xã M, huyện S, do thiếu chú ý quan sát, đi không đúng phần đường quy định (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ) nên đã đâm vào bà Nguyễn Thị H đang đi bộ sang đường. Hậu quả: làm bà H bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đến ngày 03/11/2022 thì tử vong.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao

thông đường bộ" theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra bị cáo Đ có thừa nhận trước khi xảy ra tai nạn bị cáo có

sử dụng 02 cốc bia, tuy nhiên ngay sau thời điểm gây tai nạn lực lượng cảnh sát giao thông không tiến hành đo được nồng độ cồn của Đ, mà chỉ đo được nồng độ cồn của Đ vào thời điểm 11 giờ 40 phút ngày 02/11/2022 khi Đ có mặt làm việc với cơ quan Công an, kết quả: 0.000mg/lit. Xác minh tại bệnh viện Đ2, khi Đ đến khám thương chụp XQ lúc 15 giờ 45 phút ngày 01/11/2022 bệnh viện không tiến hành xét nghiệm máu, không xác định được nồng độ cồn trong máu, sau đó Đ tự ý bỏ về.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

cho Người bị hại có xuất trình Vi bằng số 44/2023/VB-TPLPY ngày 13/01/2023 về Giấy ghi ý kiến sự việc bà Tạ Thị T5 là chủ quán Lưu Q địa chỉ T, xã M, huyện S, TP . có ý kiến trình bày sự việc: Nhóm anh Đ hôm đó uống khá nhiều rượu (Cụ thể không nói rõ Đoàn có uống rượu, bia không?.).

Ngày 21/7/2023 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người bị

hại cung cấp cho Hội đồng xét xử Công văn số 408/TTPY ngày 18/7/2023 trả lời Công văn số 84/2023/CV-DRAGON về tham vấn ý kiến” Đối với nam giới, thể trạng bình thường khi uống 02 cốc bia thể tích 330ml thì có xuất hiện nồng độ cồn trong máu, hoặc hơi thở hay không? Kết quả trả lời của Sở Y, trung tâm pháp Y: Tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo phục vụ trong phòng thí nghiệm và trong nghiên cứu.

Căn cứ quy định tại Điều 35 Luật phòng chống tác hại rượu, bia về việc

sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau:

“8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu

hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

Mặc dù Nguyễn Văn Đ thừa nhận có sử dụng 02 cốc bia vào buổi trưa

ngày 01/11/2022, tuy nhiên theo kết quả đo nồng độ cồn của Đội cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện S đối với Đoàn thể hiện kết quả: 0,000mg/l nên không có căn cứ để xử lý đối với Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định) theo yêu cầu của Đại diện hợp pháp của Người bị hại và của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người bị hại.

Vì vậy, án sơ thẩm xử phạt bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 điều

260 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đại diện bị hại đề

nghị tăng hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo bị xét xử tại khoản 1 điều 260 mức hình phạt từ 01-05 năm tù, bị cáo bồi thường một phần thiệt hại, cũng có phần thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có một phần lỗi là thiếu quan sát khi sang đường. Cấp sơ thẩm xử bị cáo 36 tháng tù là phù hợp. Cấp phúc thẩm không có tình tiết mới nên giữ nguyên án sơ thẩm.

Về dân sự: Do đại diện bị hại rút kháng cáo về phần bồi thường dân sự tại

phiên tòa nên đình chỉ xem xét yêu cầu này .

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ điểm khoản 3 điều 342; a khoản 1 Điều 355, Điều

356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và kháng cáo

của đại diện người bị hại, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 152/2023/HSST ngày 31.7.2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội về tội danh, điều luật và hình phạt, cụ thể:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38

Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 36 ( ba mươi sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm về phần bồi thường dân sự, quyết định của bản

án 152/2023/HSST ngày 31.7.2023 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội về phần bồi thường dân sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ