vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phước Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 21/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/11/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để chấp hành hình phạt tù; Vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHƯỚC LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày 21-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phán

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Khoa Nam, ông Lê Thành Dân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 07/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1993, tại Cà Mau. Nơi đăng ký HKTT: Ấp M, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện tại: Khu B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12. Họ và tên cha: Trần Văn Đ, sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Lê Kim A, sinh năm 1970; Họ và tên vợ: Đoàn Thế N1, sinh năm 1992; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/3/2020, bị Công an thị xã P xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi vi phạm hành chính: “Đánh bạc” bằng hình thức chơi điện tử game “Bắn cá”. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 05/11/2023, Trần Văn V gọi điện thoại cho Trần Minh N nói: Có ma túy thì mang đến nhà nghỉ "” tại khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, để sử dụng, thì N đồng ý. Nhí đến khu vực đập Đ thuộc khu P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, gặp 01 đối tượng nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma túy với số tiền 200.000đ, người này đưa cho N 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, dài khoảng 03cm, bên trong chứa ma túy. Nhí cầm ma túy trong tay đến phòng P, nhà nghỉ " tìm V để sử dụng ma túy.

Lúc này, đội CSĐT tội phạm về ma túy, Công an thị xã P phối hợp cùng Công an phường L, thị xã P đang kiểm tra hành chính nhà nghỉ “B”. Thấy N có biểu hiện vi phạm nên lực lượng Công an mời Nhí vào phòng P.B để kiểm tra. Khi vào phòng, N sợ nên vứt ma túy xuống nền nhà. Lực lượng công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, dài khoảng 03 cm, bên trong chứa ma túy.

- 01 điện thoại di động Oppo F5 màu trắng bị bể và trầy xước nhiều (bút lục 14, 15, 44, 45, 48 – 51, 54).

Căn cứ kết luận giám định số 1109/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,2807 gam (không phẩy hai tám không bảy gam).

Tại bản Cáo trạng số 10/CTr-VKSPL ngày 31-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước truy tố đối với hành vi của bị cáo Trần Minh N về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật, xử phạt bị cáo Trần Minh N mức hình phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù, đề nghị xử lý vật chứng.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét xử lý hình sự đối với Võ Ngọc V1, do không có căn cứ đồng phạm; đối tượng bán ma túy cho Trần Minh N và đối tượng tên T chở Trần Minh N đi mua ma túy, do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã P tách ra xác minh làm rõ xử lý sau.

Ý kiến của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án, đồng thời phù hợp với biên bản phạm tội quả tang tang, kết luận giám định số 1109/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B và kết luận của Đại diện Viện kiểm sát, cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 05/11/2023, tại phòng P.B nhà nghỉ "” thuộc khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, lực lượng Công an thị xã P bắt quả tang Trần Minh N về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ kết luận giám định số 1109/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) bên trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,2807 gam (không phẩy hai tám không bảy gam).

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương, là nguyên nhân chính gây ra các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác.

Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mặc dù khi thực hiện hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện để thỏa mãn lối sống sa đọa, hủy hoại chính tương lai và sức khỏe của bản thân bị cáo.

Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ các yếu tố cấu thành tội tang trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số 10/CTr-VKSPL ngày 31-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và biện pháp xử lý:

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và có con nhỏ, được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cải tạo để sửa chữa bản thân thành người có ích cho gia đình và xã hội, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống được pháp luật hình sự bảo vệ, nhằm giáo dục ý thức đấu tranh, phòng chống các tội phạm về ma túy.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo tại phiên tòa:

Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật, xử phạt bị cáo Trần Minh N mức hình phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù, đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa ngày 06/3/2024 Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Để xác minh, điều tra, truy tố đối với Trần Văn V và đối tượng tên T về hành vi đồng phạm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 10/CTr-VKSPL ngày 31-01-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với hành vi của Trần Văn V và đối tượng tên T theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Minh N, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P tách ra xác minh làm rõ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng:

- Đối với số vật chứng còn lại sau giám định là: 0,1981gam (Không phẩy một một không hai gam) ma túy loại Methamphetamine, được Phòng PC09 Công an tỉnh B niêm phong (bút lục 23), là “vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành”, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 điện thoại di động Oppo F5, N dùng liên lạc với V về việc sử dụng ma túy, nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về chi phí tố tụng: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ các Điều 326 và 327 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Minh N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 05/11/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để chấp hành hình phạt tù;

2. Vật chứng của vụ án:

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ 0,1981 gam (Không phẩy một một không hai gam) ma túy loại Methamphetamine, còn lại sau giám định được Phòng PC09 Công an tỉnh B niêm phong (bút lục 23).

- Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Oppo F5.

3. Về chi phí tố tụng: Bị cáo Trần Minh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ