vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 08/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M, Phan Thị Nh và Vũ Đức H, phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M. Áp dung: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Tuấn- CĐP - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M, Phan Thị Nh và Vũ Đức H, phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày 08/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Đỗ Thị Thanh Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Hân.

ông Nguyễn Văn Giang.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Quang Quyết, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/Hoàng Văn T (tên gọi khác: không); sinh ngày 07/12/1979, tại huyện H, tỉnh Thanh Hoá

Nơi cư trú: khu 5, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn B và bà: Phạm Thị T; vợ: Đỗ Thị Th, con: lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt khẩn cấp ngày 16/10/2023, tạm giữ đến ngày 23/10/2023, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/10/2023. Có mặt.

2/Nguyễn Văn M (tên gọi khác: không); sinh ngày 20/10/1984, tại huyện Th, tỉnh Thanh Hoá;

Nơi cư trú: khu 2, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N; con bà Lê Thị Th; vợ: Ngọ Thị Q; con: con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt khẩn cấp ngày 16/10/2023, tạm giữ đến ngày 23/10/2023, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/10/2023. Có mặt.

3/Vũ Đức H (tên gọi khác: không); sinh ngày 01/8/1988, tại Y, Ninh Bình.

Nơi cư trú: khu 3, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn T và bà: Nguyễn Thị T; vợ: Đào Thị Ng, con: lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang ngày 15/10/2023, tạm giữ đến ngày 23/10/2023, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/10/2023. Có mặt.

4/Phan Thị Nh (tên gọi khác: không); sinh ngày 06/4/1973, tại Đ, Quảng Ninh.

Nơi cư trú: khu 7, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 2/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Quốc S và bà: Đinh Thị Ng; chồng: Lê Văn Kh, con: lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang ngày 15/10/2023, tạm giữ đến ngày 23/10/2023, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/10/2023. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đỗ Văn B, sinh năm: 1985;

2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1975.

3. Anh Cấn Ngọc Q, sinh năm: 1998.

4. Anh Vũ Đức T, sinh năm: 1990.

Người làm chứng: anh Lê Văn Khiêm, sinh năm 1973. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 6/2022, Hoàng Văn T đứng ra làm chủ đề, nhận đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi “lô, đề” được thua bằng tiền với những người có nhu cầu. Về cách thức chơi, người chơi có thể đặt cược bằng cách nhắn tin vào tài khoản Zalo “Tuấn Sài Gòn” của Tuấn, sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hằng ngày, Tuấn sẽ đối chiếu số thắng, thua để trả tiền cho người thắng hoặc thu tiền của người thua. Cách thức thanh toán bằng việc chuyển và trả tiền qua tài khoản Ngân hàng của T. Do biết Tuấn ghi lô, đề nên vào khoảng tháng 6/2023, Nguyễn Văn M, Vũ Đức H và Phan Thị Nh trực tiếp ghi số lô, đề với người chơi rồi chuyển bảng lô, đề cho T để hưởng chiết khấu phần trăm. Tuấn đồng ý và thỏa thuận như sau:

Về hình thức chơi số lô, đề và quy định thắng thua như sau: đối với số đề, người chơi đặt cược một số tiền nhất định vào một hoặc nhiều số tự nhiên từ 00-99, nếu số cược trùng với hai số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc cùng ngày thì người chơi thắng cược, số tiền thắng gấp 80 lần số tiền người chơi đặt cược. Đối với số ba càng, người chơi đặt cược một số tiền nhất định vào một hoặc nhiều số tự nhiên từ 000-999, nếu số cược trùng với ba số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc cùng ngày thì người chơi thắng cược, số tiền thắng gấp 400 lần số tiền người chơi đặt cược. Đối với số lô, người chơi chọn một hoặc nhiều số tự nhiên bất kỳ từ 00-99, mức cược 01 điểm lô tương ứng với số tiền 23.000 đồng, với tỉ lệ thắng cược là 80.000 đồng, kết quả số lô được so sánh với kết quả tất cả các giải xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày. Nếu số lô người chơi đặt cược trùng với hai số của bất kỳ giải nào thì người đặt cược thắng. Nếu nhiều giải trùng với số đặt cược thì nhân số tiền thắng cược với số lượng giải trùng và người đặt cược thắng. Ngược lại nếu không trùng thì người chơi thua hết số tiền đã đặt cược cho người nhận cược.

Về mức chiết khấu chênh lệch, T thống nhất như sau: tiền đề đối với Nguyễn Văn M, Vũ Đức H và Phan Thị Nh là 85% (tức là 10.000 đồng tiền đề, thì chuyển cho Tuấn 8.500 đồng); tiền lô đối với M và Nh là 22.000 đồng/01 điểm lô (tức là 23.000 đồng thì chuyển 22.000 đồng) và đối với H là 21.800 đồng; tiền 3 càng đối với M, H và Nh là 70% (10.000 đồng thì chuyển 7.000 đồng).

Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 15/10/2023, Phan Thị Nh đang ngồi ở quán cà phê “Khiêm Nhàn” thuộc khu 7, phường H, thành phố M, thì Đỗ Văn B và Nguyễn Thị T đến hỏi mua số lô, số đề. B hỏi mua các số lô 83 và 80, mỗi số 50 điểm, tương ứng với tổng số tiền 2.300.000 đồng và mua các số đề 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, mỗi số 80.000 đồng, tương ứng với tổng số tiền 800.000 đồng (tổng số tiền Bình đặt cược là 3.100.000 đồng). Nh đồng ý bán cho B rồi nhận tiền và đưa cho B một tờ giấy (gọi là phơi) có ghi chữ số “15/10/2023, lô 83x50, 80x50; đầu 2=800, 3100, có chữ ký của Nh”. Toàn hỏi mua các số lô 25, 52, 23 và 32, mỗi số 25 điểm, tương ứng với số tiền 2.300.000 đồng. Nh đồng ý bán cho Toàn, nhưng chưa kịp nhận tiền. Cũng trong khoảng thời gian này, Vũ Đức H đang ở nhà tại khu 3, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, thì Vũ Đức T và Cấn Ngọc Q đến hỏi mua số lô, số đề. Tiến hỏi mua các số lô 68 và 86, mỗi số 50 điểm, số lô 66 cược 20 điểm, tương ứng với tổng số tiền 2.760.000 đồng và mua số đề 66 là 40.000 đồng (tổng số tiền Tiến đặt cược là 2.800.000 đồng). H đồng ý bán cho T rồi nhận tiền và viết 01 tờ phơi ghi “ngày 15/10/2023 có các số (68, 86) x50; 66x20; 66=40 có chữ ký của H”. Q hỏi mua các số lô 54, 55, 14 và 13, mỗi số 25 điểm, tương ứng với số tiền 2.300.000 đồng và các số đề 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 cược mỗi số 10.000 đồng, tương ứng với số tiền 100.000 đồng (tổng số tiền Quyền đặt cược là 2.400.000 đồng). H đồng ý bán cho Q rồi nhận tiền và đưa cho Q 01 tờ phơi ghi “ngày 15/10/2023, số đề đầu 1=100; lô (54, 55, 14, 13) x25, có chữ ký của H”. Trong khi Phan Thị Nh đang ghi số lô, đề cho Đỗ Văn B và Nguyễn Thị T; Vũ Đức H đang ghi số lô, đề cho Vũ Đức T và Cấn Ngọc Q thì bị Đội Cảnh sát Hình sự Công an thành phố Móng Cái phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của Phan Thị N 01 quyển phơi ghi lô, đề kích thước (10x7) cm, trên mỗi tờ giấy có ghi “Ngày...../......./202......”; 01 tờ phơi ghi “15/10/2023, lô 83x50, 80x50; đầu 2=800, 3100, có chữ ký của Nhàn”; 02 tờ phơi ghi “15/10/2023, lô 25x25, 52x25, 23x25, 32x25”; 01 tờ giấy than, kích thước (10x07)cm, bị rách nham nhở; 01 chiếc bút bi, vỏ màu xanh-trắng, in chữ “TL-08”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, gắn sim số 0343.329.996 và 3.100.000 đồng. Thu giữ của Vũ Đức H 01 quyển sổ, kích thước (17x24)cm, bìa màu trắng in hình người, ghi chữ và số, bên trong, trang đầu ghi: 15/10, đề đầu 1=30, 19=20, 50=5, đầu 1=100, 66=40; lô (54, 55, 14, 13)x25; (68, 86)x50; 66x20; 3 càng 150=5; 01 quyển sổ lò xo, kích thước (07x10)cm bìa màu trắng in hình đồ vật, ghi chữ và số, là giấy kẻ ngang chưa ghi chữ và số; 01 chiếc bút bi, vỏ màu xanh in “TL.025 0.8mm”; 01 tờ phơi ghi ngày 15/10/2023 có các số (68, 86)x50; 66x20; 66=40 có chữ ký của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8, gắn sim số 0376.875.558 và 5.260.000 đồng. Thu giữ của Đỗ Văn B 01 tờ phơi ghi “15/10/2023, lô 83x50, 80x50; đầu 2=800, 3100 có chữ ký của Nh”; của Nguyễn Thị T số tiền 2.300.000 đồng; của Cấn Ngọc Q01 tờ phơi ghi ngày 15/10/2023, số đề đầu 1=100; lô (54, 55, 14, 13) x25, có chữ ký của H.

Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 16/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành bắt khẩn cấp đối với Hoàng Văn T và Nguyễn Văn M. Thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, gắn sim số 0376.903.168 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, gắn sim số 0772.200.156; của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu vàng, gắn sim số 0961.456.169 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, gắn sim số 0768.385.118.

Quá trình điều tra xác định được: ngày 15/10/2023, Hoàng Văn T nhận số lô, số đề và 3 càng của Nguyễn Văn M, cụ thể Mong chuyển cho T những số lô, đề và 3 càng sau: số đề gồm: số 11 đặt cược 250.000 đồng; 34 và 43, mỗi số cược 50.000 đồng; 14, 41, 35, 53, 26 và 62, mỗi số cược 100.000 đồng, tương ứng với số tiền là 950.000 đồng; số lô gồm: số 19 đặt cược 300 điểm; các số 30, 33, 95, 96, 13 và 45, mỗi số cược 100 điểm; các số 49, 94 và 77, mỗi số cược 25 điểm; các số 74, 75 và 56, mỗi số cược 20 điểm; các số 19, 91, 59, 95, 05, 50, 33, 89, 98, 45, 54, 38 và 83, mỗi số cược 10 điểm; số 66 cược 50 điểm; số 36 cược 200 điểm, tương ứng với tổng số tiền là 32.545.000 đồng; số ba càng: số 514 và 541, mỗi số đặt cược 100.000 đồng, tương ứng với tổng số tiền là 200.000 đồng. Tổng cộng là 33.695.000 đồng.

Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 15/10/2023, kết quả: M thắng cược số lô 13 cược 100 điểm, số 45 (02 lần) là 220 điểm, số 94 cược 25 điểm, số 77 cược 25 điểm, số 75 cược 20 điểm, số 50, 54 mỗi số cược 10 điểm. Tổng số điểm lô M thắng cược là 410 điểm, tương ứng với số tiền 32.800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Tuấn và M đánh bạc trong ngày 15/10/2023, là 66.495.000 đồng.

Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái đã ra lệnh phong tỏa, tạm dừng giao dịch tài khoản của các bị cáo như sau:

- Đối với Hoàng Văn T: ngày 07/12/2023, phong tỏa 6.055.218 đồng trong tài khoản số 0551000286650 của Hoàng Văn T mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Móng Cái.

- Đối với Nguyễn Văn M: ngày 09/01/2024, phong tỏa 9.215.000 đồng trong tài khoản số 19035444332017 của Nguyễn Văn M mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) chi nhánh Móng Cái.

- Đối với Vũ Đức H: ngày 07/12/2023, phong tỏa 1.908.179 đồng trong tài khoản số 100108198888 của Vũ Đức H mở tại Ngân hàng MBbank chi nhánh Móng Cái.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn B trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: khoảng 17 giờ 40 phút ngày 15/10/2023, anh B vào quán cà phê “Khiêm Nhân” tại khu 7, phường H, thành phố Móng Cái để uống nước. Khoảng 05 phút sau, anh B thấy một người phụ nữ đến và uống nước cạnh bàn anh Bình. Quá trình ngồi uống nước, anh B thấy trên bàn chỗ chị chủ quán (sau này biết tên là Phan Thị Nh) ngồi có quyển phơi ghi lô, đề. Do bản thân có nhu cầu cần đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề nên anh Bình đã đặt vấn đề đặt cược số lô, số đề với chị Nh và được chị Nh đồng ý. Sau đó, tôi đặt cược số là 83, 80 mỗi số 50 điểm; đặt cược số để đầu 2 (gồm các số 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29) mỗi số 80.000₫, tổng số tiền anh B đặt cược với chị Nh là 3.100.0000đ (ba triệu một trăm nghìn đồng). Sau khi chị Nh ghi số lô, số đề đặc cược vào tờ phơi thì anh B đã đưa cho chị Nh số tiền 3.100.0000đ (ba triệu một trăm nghìn đồng), còn chị Nh đưa cho anh B tờ phơi có số lô, số đề đã đặt cược lúc trước. Sau khi nhận tờ phơi xong anh B ra bàn ngồi uống nước tiếp. Sau đó, anh B thấy chị T cũng ra chỗ chị Nh đặt vấn đề đặt cược số lô, số đề và được chị Nh đồng ý. Chị T đặt cược số lô 25, 52, 23, 32 mỗi số 25 điểm; tổng số tiền chị T đặt cược với chị Nh là 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Chị Nh cũng ghi số lô, đề mà chị T đặt cược vào tờ phơi; còn chị T đang đếm tiền trả cho chị Nh thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện: khoảng 17 giờ 45 phút ngày 15/10/2023, chị T đi bộ vào quán cà phê “Khiêm Nhàn” tại khu 7, phường H, thành phố M trong lúc chờ chồng đón. Trong quá trình ngồi uống nước tại quán cà phê “Khiêm Nhàn”, chị T thấy trong quán có một nam thanh niên (sau này tôi biết tên là Bình) ngồi bàn bên cạnh. Sau đó, chị T thấy anh B vào gặp chị chủ quán (sau này biết tên là Phan Thị Nh) để đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề. Chị T thấy anh B đặt cược số lô 83, 80 mỗi số 50 điểm; số đề đầu 2 đặt cược 800.000₫ (tám trăm nghìn đồng). Sau khi B đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với chị Nh xong thì chị Toàn biết chị Nh có ghi số lô, số đề. Sau đó, do bản thân có nhu cầu đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề nên chị T có gặp chị Nh để đặt vấn đề đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề và được chị Nh đồng ý. Sau đó, chị T đặt cược số lô 25, 52, 23, 32 mỗi số 25 điểm; tổng số tiền tôi đặt cược với chị Nhàn là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng). Chị Nh cũng ghi số lô mà chị T đặt cược vào tờ phơi. Sau khi chị Nh ghi xong thì chị T móc tiền từ trong túi ra để trả cho chị Nh. Khi chị T đang đếm tiền thì lực lượng Công an bắt quả tang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Cấn Ngọc Q và anh Vũ Đức T trong quá trình điều tra cùng có lời khai thể hiện: khoảng 17 giờ 40 phút ngày 15/10/2023, anh Q cùng với anh Vũ Đức T đi làm về trên đường Trần H thuộc phường H. Khi đi qua quán tạp hóa “Hùng Nguyệt” ở số 299 đường Trần Hưng Đạo thuộc khu 3, phường H, thành phố M thì anh Q vào để mua nước uống thì thấy một người đàn ông (sau này được biết tên là Vũ Đức H) đang ngồi trông quán, phía trước mặt có bút và số. Đoán biết người này ghi số lô, đề nên anh Q đặt vấn đề đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề, H đồng ý. Tại đây, tôi đặt cược số là 54, 55, 14, 13 mỗi số 25 điểm; đặt cược số đề đầu 1 (gồm các số 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 mỗi số 10.000đ) số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Tổng số tiền anh Quyền bỏ ra để đặt cược là 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Lúc này, anh Q thấy T cũng đặt cược số lô 68, 86 mỗi số 50 điểm, số lộ 66 đặt cược 20 điểm; số đề 66 đặt cược 40.000₫; tổng số tiền T bỏ ra đặt cược là 2.800.000₫. Sau khi anh Q và Tiến trả số tiền trên cho anh H, H đưa cho anh Q 01 tờ phơi ghi số lô, số đặt cược, anh Q cầm trên tay, khi anh H đang đưa tờ phơi ghi số lô, số đề cho T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Đồng thời, thu giữ trên tay của anh Q 01 tờ phơi ghi số lô, số đề; thu giữ của H số tiền 5.260.000đ (năm triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng). Ngoài ra còn thu giữ 02 quyển sổ anh H dùng để ghi số lô, số đề, phơi đề, kèm theo 01 chiếc bút bi màu xanh đang sử dụng, 01 chiếc điện thoại di động.

Người làm chứng anh Lê Văn Kh có lời khai thể hiện như nội dung vụ án.

Bản cáo trạng số: 18/CT - VKSMC ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M, về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Đức H, Phan Thị Nh, về tội“Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: các bị cáo khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M;

Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với bị cáo Vũ Đức H;

Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với bị cáo Phan Thị Nh:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 60 (sáu mươi) tháng, về tội “Đánh bạc”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 60 (sáu mươi) tháng, về tội “Đánh bạc”;

Xử phạt bị cáo Vũ Đức H, Phan Thị Nh từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mười bốn) tháng, về tội “Đánh bạc”;

Giao các bị cáo Hoàng Văn T, Vũ Đức H, Phan Thị Nh cho UBND phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; giao Nguyễn Văn M cho UBND phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh phối hợp với gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 10.660.000đ (mười triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu ghi, gắn sim của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu vàng, gắn sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh của bị cáo Mong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng gắn sim thu giữ của Nh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8, màu đen, gắn sim thu giữ của H.

+ Truy thu của bị cáo M số tiền: 33.695.000 (ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng); bị cáo T số tiền 32.800.000 (ba mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).

+ Trả lại bị cáo T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu vàng, gắn sim.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh, in “TL.025-0.8mm” và 01 (một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh - trắng, im chữ “TL-08”.

+ 01 (một) quyển phơi ghi lô, đề kích thước (10x7) cm, trên mỗi tờ giấy có ghi “Ngày…../…../202…”; 01 (một) tờ phơi ghi lô, số đề ghi “15/10/2023, lô 83 x 50. Đầu 2 = 800, 3100 và chữ ký trong tờ giấy”; 02 (hai) tờ phơi ghi lô, số đề ghi “15/10/2023, lô 25 x 25, 52 x 25, 23 x 25, 32 x 25; 01 (một) tờ giấy than kích thước (10x7) cm, giấy bị rách nham nhở; 01 (một) quyển sổ kích thước (17 x24) cm, bìa màu trắng in hình người và ghi chữ và số, bên trong quyển sổ trang đầu tiên ghi: 15/10, đề đầu 1=30, 19=20, 50=5, đầu 1=100, 66= 40; lô (54,55,14,13) x 25; (68,86) x 50; 66 x 20; 3 càng 150 = 3; các tờ giấy còn lại là giấy kẻ ngang chưa ghi chữ và số; sát bìa quyển số có vết cắt nham nhở; 01 (một) quyển sổ lò xo kích thước (07 x 10) cm bìa màu trắng in hình đồ vật và ghi chữ và số, là giấy kẻ ngang chưa ghi chữ và số; 01 (một) tờ phơ ghi ngày 15/10/2023 có các số (68,86) x 50; 66x20; 66=40 có chữ ký của Vũ Đức H; 01 (một) tờ phơ số lô, số đề ghi ngày 15/10/2023, lô 83 x 50, 80 x 50; Đầu 2 = 800, 3100 và có chữ ký trong tờ giấy; 01 (một) tờ phơ ghi ngày 15/10/2023 ghi các số lô, số đề 1 = 100, 66=40; lô (54,55,14,13) x 25 có chữ ký của Vũ Đức H, là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

+ Về biện pháp tư pháp: phong tỏa tài khoản mà Cơ quan điều tra đã phong tỏa của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội. Đánh giá các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; trên cơ sở Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: trong ngày 15/10/2023, tại phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M, Phan Thị Nh và Vũ Đức H có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi lô, đề được thua bằng tiền, trong đó Nguyễn Văn M, Phan Thị Nh và Vũ Đức H là trung gian giúp sức cho T đánh bạc để hưởng chiết khấu phần trăm, đồng thời đánh bạc trực tiếp với T và những người khác. Cụ thể số tiền đánh bạc như sau: Hoàng Văn T và Nguyễn Văn M đánh bạc trái phép, với tổng số tiền là 66.495.000đ (sáu mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng); số tiền sử dụng đánh bạc trái phép của Phan Thị Nh là 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng) và của Vũ Đức H là 5.260.000đ (năm triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

Trong khi, Phan Thị Nh có hành vi đánh bạc trái phép với Đỗ Văn B và Nguyễn Thị T; Vũ Đức H có hành vi đánh bạc trái phép với Cấn Ngọc Q và Vũ Đức T bị Công an thành phố Mbắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự và Phan Thị Nh, Vũ Đức H đã vi phạm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa tại địa phương, gây mất ổn định xã hội. Do đó quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý.

Xét tính chất, mức độ của hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đánh bạc là một tệ nạn mà Nhà nước đã có nhiều biện pháp ngăn chặn vì từ đó thường xuyên nảy sinh nhiều vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thu lời bất chính nên vẫn cố ý vi phạm. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

Về vai trò; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Xét vai trò của các bị cáo: đây là vụ án đồng phạm, nhưng tính chất giản đơn. Trong đó bị cáo Tuấn có vai trò cao hơn bị cáo M, Nh và H, vì bị cáo T là người nhận bảng lô, đề từ các bị cáo M, Nh, H và chiết khấu phần trăm cho M, Nh, H.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo T, M, H, Nh đều lần đầu phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong đó bị cáo Nh và H thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó bị cáo Nhàn và Hùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo T và M được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được tặng huy chương kháng chiến hạng ba (có xác nhận của chính quyền địa phương) và mẹ đẻ đã tham gia thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Đối với bị cáo Mong thuộc gia đình có công với Cách mạng, có bà nội là mẹ Việt nam anh hùng và bố đẻ bị cáo đã tham gia kháng chiến. Đối với bị cáo H, có bố đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Nên các bị cáo T, M và H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều không có công việc ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo. Riêng bị cáo Nh và H thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bốn bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó xét thấy không cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 10.660.000đ (mười triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, gắn sim của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu vàng, gắn sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh của bị cáo M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng gắn sim thu giữ của Nh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8, gắn sim thu giữ của H, liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Truy thu của bị cáo M số tiền: 33.695.000 (ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng); bị cáo T số tiền 32.800.000 (ba mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).

+ Trả lại bị cáo T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu vàng, gắn sim, không liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh, in “TL.025-0.8mm” và 01 (một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh - trắng, im chữ “TL-08”, không còn giá trị sử dụng.

+ 01 (một) quyển phơi ghi lô, đề kích thước (10x7) cm, trên mỗi tờ giấy có ghi “Ngày…../…../202…”; 01 (một) tờ phơi ghi lô, số đề ghi “15/10/2023, lô 83 x 50. Đầu 2 = 800, 3100 và chữ ký trong tờ giấy”; 02 (hai) tờ phơi ghi lô, số đề ghi “15/10/2023, lô 25 x 25, 52 x 25, 23 x 25, 32 x 25; 01 (một) tờ giấy than kích thước (10x7) cm, giấy bị rách nham nhở; 01 (một) quyển sổ kích thước (17 x24) cm, bìa màu trắng in hình người và ghi chữ và số, bên trong quyển sổ trang đầu tiên ghi: 15/10, đề đầu 1=30, 19=20, 50=5, đầu 1=100, 66= 40; lô (54,55,14,13) x 25; (68,86) x 50; 66 x 20; 3 càng 150 = 3; các tờ giấy còn lại là giấy kẻ ngang chưa ghi chữ và số; sát bìa quyển số có vết cắt nham nhở; 01 (một) quyển sổ lò xo kích thước (07 x 10) cm bìa màu trắng in hình đồ vật và ghi chữ và số, là giấy kẻ ngang chưa ghi chữ và số; 01 (một) tờ phơ ghi ngày 15/10/2023 có các số (68,86) x 50; 66x20; 66=40 có chữ ký của Vũ Đức Hùng; 01 (một) tờ phơ số lô, số đề ghi ngày 15/10/2023, lô 83 x 50, 80 x 50; Đầu 2 = 800, 3100 và có chữ ký trong tờ giấy; 01 (một) tờ phơ ghi ngày 15/10/2023 ghi các số lô, số đề 1 = 100, 66=40; lô (54,55,14,13) x 25 có chữ ký của Vũ Đức H, là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

- Tiếp tục phong tỏa các khoản tiền của các bị cáo để đảm bảo thi hành án như sau:

+ Đối với Hoàng Văn T: ngày 07/12/2023, phong tỏa 6.055.218 đồng trong tài khoản số 0551000286650 của Hoàng Văn Tmở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Móng Cái; Theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 100/LPT-CSĐT ngày 07/12/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái.

+ Đối với Nguyễn Văn M: ngày 09/01/2024, phong tỏa 9.215.000 đồng trong tài khoản số 19035444332017 của Nguyễn Văn M mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) chi nhánh Móng Cái; Theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 20/LPT-CSĐT ngày 09/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái.

+ Đối với Vũ Đức H: ngày 07/12/2023, phong tỏa 1.908.179 đồng trong tài khoản số 100108198888 của Vũ Đức H mở tại Ngân hàng MBbank chi nhánh Móng Cái; Theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 101/LPT-CSĐT ngày 07/12/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái.

Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M, Phan Thị Nh và Vũ Đức H, phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M.

Áp dung: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Đức H.

Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thị Nhàn.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Phan Thị Nh 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Vũ Đức H 09 chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Hoàng Văn T, Vũ Đức H, Phan Thị Nh cho UBND phường H thành phố M Cái, tỉnh Quảng Ninh; giao Nguyễn Văn M cho UBND phường Hải H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh phối hợp với gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đã áp dụng đối với các bị cáo `++ theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 05,06,07,08/LCCC, ngày 06/02/2024.

2. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 10.660.000đ (mười triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, gắn sim của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu vàng, gắn sim và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh của bị cáo M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng gắn sim thu giữ của Nh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8, gắn sim thu giữ của H.

+ Truy thu của bị cáo M số tiền: 33.695.000 (ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng); bị cáo T số tiền 32.800.000 (ba mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng).

+ Trả lại bị cáo T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 ProMax, màu vàng, gắn sim.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh, in “TL.025-0.8mm”; 01 (một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh - trắng, im chữ “TL-08”.

+ 01 (một) quyển phơi ghi lô, đề kích thước (10x7) cm, trên mỗi tờ giấy có ghi “Ngày…../…../202…”; 01 (một) tờ phơi ghi lô, số đề ghi “15/10/2023, lô 83 x 50. Đầu 2 = 800, 3100 và chữ ký trong tờ giấy”; 02 (hai) tờ phơi ghi lô, số đề ghi “15/10/2023, lô 25 x 25, 52 x 25, 23 x 25, 32 x 25; 01 (một) tờ giấy than kích thước (10x7) cm, giấy bị rách nham nhở; 01 (một) quyển sổ kích thước (17 x24) cm, bìa màu trắng in hình người và ghi chữ và số, bên trong quyển sổ trang đầu tiên ghi: 15/10, đề đầu 1=30, 19=20, 50=5, đầu 1=100, 66= 40; lô (54,55,14,13) x 25; (68,86) x 50; 66 x 20; 3 càng 150 = 3; các tờ giấy còn lại là giấy kẻ ngang chưa ghi chữ và số; sát bìa quyển số có vết cắt nham nhở; 01 (một) quyển sổ lò xo kích thước (07 x 10) cm bìa màu trắng in hình đồ vật và ghi chữ và số, là giấy kẻ ngang chưa ghi chữ và số; 01 (một) tờ phơ ghi ngày 15/10/2023 có các số (68,86) x 50; 66x20; 66=40 có chữ ký của Vũ Đức H; 01 (một) tờ phơ số lô, số đề ghi ngày 15/10/2023, lô 83 x 50, 80 x 50; Đầu 2 = 800, 3100 và có chữ ký trong tờ giấy; 01 (một) tờ phơ ghi ngày 15/10/2023 ghi các số lô, số đề 1 = 100, 66=40; lô (54,55,14,13) x 25 có chữ ký của Vũ Đức H, lưu trong hồ sơ vụ án.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 57/2024/THA, ngày 06/02/2024 và Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 35/BBBQ-CSĐT ngày 07/12/2023 giữa Kho bạc nhà nước Móng Cái và Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Móng Cái). Về việc kê biên, phong tỏa tài khoản: Căn cứ Điều 128, Điều 129 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Về việc phong tỏa tài khoản:

Tiếp tục phong tỏa các khoản tiền của các bị cáo tại các ngân hàng để đảm bảo thi hành án như sau:

+ Đối với Hoàng Văn T:

Phong tỏa số tiền: 6.055.218 đồng trong tài khoản số 0551000286650 của Hoàng Văn Tuấn mở tại Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Móng Cái.

+ Đối với Nguyễn Văn M:

Phong tỏa số tiền 9.215.000 đồng trong tài khoản số 19035444332017 của Nguyễn Văn Mong mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) chi nhánh Móng Cái.

+ Đối với Vũ Đức H:

Phong tỏa số tiền 1.908.179 đồng trong tài khoản số 100108198888 của Vũ Đức Hùng mở tại Ngân hàng MBbank chi nhánh Móng Cái.

3. Về án phí:

Áp dụng: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn M, Phan Thị Nh và Vũ Đức H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng: khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Cỡ chữ