vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo H M P phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo H M P 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án 31/01/2024. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo H M P phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày 31/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Minh Thư

2. Bà Quách Thị Bích Ngà

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

H M P; sinh ngày 23/4/1983; tại Đồng Nai; nơi cư trú: x Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông H A S và bà V U M. Bị cáo có chồng tên là Đ M L, có một người con sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 11/8/2023, tạm giam từ ngày 11/8/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11. Đến ngày 30/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông L N H; địa chỉ: x Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông N H P2; địa chỉ: xx Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông N Q H2; địa chỉ: x Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 40 phút ngày 02/8/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội Công an Quận 11, tuần tra đến trước nhà số x Cư xá Phú Bình, Phường x, Quận x, phát hiện hai đối tượng L N H và N H P2 có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra, thu giữ của đối tượng H 01 biên lai số đề với số tiền mua số đề là 540.000 đồng, thu giữ của đối tượng P2 01 tờ biên lai số đề với số tiền mua số đề là 720.000 đồng. Hai đối tượng H và Phúc khai nhận vừa mua số đề của đối tượng H M P tại nhà số x Lạc Long Quân, Phường x, Quận x.

Vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 02/8/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội Công an Quận 11 phối hợp Công an Phường x, Quận x kiểm tra nhà số x Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, phát hiện đối tượng H M P đang bán số đề cho đối tượng N Q H2 số tiền 164.000 đồng, thu giữ của đối tượng P 12.300.000 đồng, 36 tờ biên lai số đề, 02 điện thoại di động, 01 cây viết, 01 máy tính. Qua kiểm tra 36 tờ biên lai số đề xác định số tiền đánh bạc là 19.531500 đồng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với đối tượng P.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, bị can H M P khai nhận: Từ cuối tháng 04/2023, một mình bị can P thực hiện hành vi bán số đề tại nhà x Lạc Long Quân, Phường x, Quận x. Hàng ngày bị can P ghi số đề từ 12 giờ đến 16 giờ. Khi có người đến mua số đề, bị can P ghi vào tờ biên lai số đề đưa cho người mua, bị can P giữ lại tờ biên lai số đề đã được scan qua giấy để đối chiếu khi có kết quả xổ số. Sau đó, bị can P tổng hợp những số đề đã bán trong ngày vào tin nhắn điện thoại di động hiệu OPPO gắn sim số 0903069418, 0906028047 và điện thoại di động hiệu Realme UI gắn sim số 0931733565 rồi gửi cho chủ thầu đề là L T C “Suc” sử dụng số điện thoại “0792187618”, để hưởng hoa hồng 4% trên tổng số tiền mua bán số đề.

Cách thức đánh bạc (ghi số đề) như sau: Nếu người mua số đề ghi 02 số 1.000 đồng, đối tượng C quy định trúng thưởng 75.000 đồng, bị can P chung cho người mua số đề 72.000 đồng; ghi 03 số 1.000 đồng, đối tượng C quy định trúng thưởng 650.000 đồng, bị can P chung cho người mua số đề 620.000 đồng; ghi 04 số 1.000 đồng, đối tượng C quy định trúng thưởng 5.500.000 đồng, bị can P chung cho người mua số đề 5.200.000 đồng; số đá xuyên 02 đài 1.000 đồng, đối tượng C quy định trúng thưởng 550.000 đồng, bị can P chung cho người mua số đề 520.000 đồng và bị can P chỉ lấy 80% trên tổng số tiền mà khách mua số đề.

Vào ngày 02/8/2023, bị can P bán số đề cho L N H, N H P2 và những người khác không rõ lai lịch. Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, khi bị can P đang bán số đề cho đối tượng N Q H2 với số tiền 164.000 đồng thì bị bắt quả tang như trên. Qua kiểm tra, xác định trong ngày 02/8/2023, bị can P đã bán số đề cho khách rồi tổng hợp thành tin nhắn gửi cho đối tượng C “Suc” 04 tin nhắn mua bán số đề với tổng số tiền là 19.531.500 đồng. Khi bắt quả tang, Công an đã thu giữ của bị can P 12.300.000 đồng tiền ghi số đề, 36 tờ biên lai số đề, 01 máy tính, 01 cây viết, 02 điện thoại di động. Bị can P khai ghi số đề từ cuối tháng 04/2023 đến ngày 02/8/2023 được 04 tháng, thu lợi bất chính khoảng 40.000.000 đồng, bị can P dùng tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận giám định số 10158/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, về việc phục hồi dữ liệu điện thoại di động hiệu Realme UI, sử dụng số thuê bao 0931733565 thu giữ của bị can H M P, kết luận:

“Không khôi phục được dữ liệu của ứng dụng Viber trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2023 đến hết ngày 02/8/2023.

Tìm thấy dữ liệu gồm: 3254 tin nhắn Messenger (Qua kiểm tra không có nội dung ghi số đề); 440 tin nhắn điện thoại (Qua kiểm tra có nội dung ghi số đề); 17.786 tin nhắn Zalo (Qua kiểm tra không có nội dung ghi số đề); 3.370 cuộc gọi”.

Qua kiểm tra 440 có tin nhắn điện thoại, xác định được số tiền mua bán số đề của Phương, cụ thể như sau:

Ngày 30/6/2023, bị can P nhắn tin qua số điện thoại 0792187618 mua bán số đề với tên “Suc” của đài Vĩnh Long và Bình Dương với số tiền 15.429.000 đồng, đài miền Bắc là 9.174.000 đồng; bị can P bán số đề cho tên “Bom” qua tin nhắn của đài Vĩnh Long và Bình Dương với số tiền 1.460.000 đồng.

Ngày 01/7/2023, bị can P nhắn tin qua số điện thoại 0792187618 mua bán số đề với tên “Suc” của đài Thành phố Hồ Chí Minh và Long An với số tiền 2.907.500 đồng.

Tất cả số đề đã bán cho tên “Bom” qua tin nhắn số điện thoại 0984845670, bị can P đều tổng hợp với những số đề đã bán cho khách khác trong ngày, rồi nhắn tin cho tên “Suc” để hưởng hoa hồng.

Tại Kết luận giám định số 10160/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, về việc phục hồi dữ liệu điện thoại di động hiệu OPPO, sử dụng số thuê bao 0906028047 và 0903069418 thu giữ của bị can H M P, kết luận:

“Không khôi phục được dữ liệu của ứng dụng Viber, Zalo trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2023 đến hết ngày 02/8/2023.

Tìm thấy dữ liệu gồm: 240 tin nhắn Messenger (Qua kiểm tra không có nội dung ghi số đề); 55 tin nhắn điện thoại (Qua kiểm tra có nội dung ghi số đề); 157 cuộc gọi”.

Qua kiểm tra 55 có tin nhắn điện thoại, xác định được số tiền mua bán số đề của bị can P, cụ thể như sau:

Ngày 09/4/2023, bị can P nhắn tin qua số điện thoại 0792187618 mua bán số đề với tên “Suc” của đài Tiền Giang với số tiền 126.000 đồng.

Ngày 10/4/2023, bị can P nhắn tin qua số điện thoại 0792187618 mua bán số đề với tên “Suc” của đài Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp với số tiền 6.233.000 đồng; đài miền Bắc với số tiền 14.102.000 đồng.

Ngày 31/7/2023, bị can P bán số đề cho tên “Bom” qua tin nhắn số điện thoại 0984845670 của đài Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp với số tiền 1.140.000 đồng; đài miền Bắc với số tiền 3.130.000 đồng.

Ngày 01/8/2023, bị can P bán số đề cho tên “Bom” qua tin nhắn số điện thoại 0984845670 của đài Vũng Tàu và Bến Tre với số tiền 2.960.000 đồng; đài miền Bắc với số tiền 1.780.000 đồng.

Căn cứ kết quả phục hồi dữ liệu điện thoại thu giữ của bị can H M P, biên bản phạm tội quả tang xác định bị can P thực hiện hành đánh bạc (ghi số đề) 05 lần; cụ thể như sau:

Ngày 10/4/2023, bị can P ghi số đề của đài Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Tháp với số tiền 6.233.000 đồng;

Ngày 10/4/2023, bị can P ghi số đề của đài miền Bắc với số tiền 14.102.000 đồng;

Ngày 30/6/2023, bị can P ghi số đề của đài Vĩnh Long và Bình Dương với số tiền 15.429.000 đồng;

Ngày 30/6/2023, bị can P ghi số của đài miền Bắc với số tiền 9.174.000 đồng.

Ngày 02/8/2023, bị can P ghi số đề của đài Đồng Nai và Cần Thơ với tiền 19.531.500 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, đối tượng L T C khai nhận: Từ cuối tháng 4/2023, đối tượng C bán số đề cho bị can H M P rồi giữ lại trực tiếp thắng thua. Đối tượng C thường sử dụng 02 điện thoại di động: 01 máy hiệu Iphone X có số thuê bao 0908402183; 01 máy hiệu Iphone 6 Plus sử dụng sim khuyến mãi (thường xuyên thay đổi sim, không nhớ được số điện thoại) dùng bán số đề thông qua nhận tin nhắn mua số đề từ bị can P. Hàng ngày, khi nhận tin nhắn mua số đề từ bị can P, đối tượng C sao chép lại toàn bộ tin nhắn rồi gửi lại cho bị can P để xác nhận việc mua bán số đề. Khi có kết quả xổ số, đối tượng C kiểm tra các số trúng thưởng, tính toán số tiền thắng thua rồi trực tiếp đến nhà bị can P để thanh toán tiền sau đó xóa tất cả tin nhắn đã mua bán số đề trong ngày. Vào chiều ngày 02/8/2023, đối tượng C điều khiển xe chở vợ là Lý Tuyết Hà đi công việc. Trên đường đi, đối tượng C làm rơi điện thoại di động Iphone 6 Plus dùng mua bán số đề với bị can P xuống đường, đối tượng C quay lại nhặt thì thấy điện thoại bị vỡ, hư hỏng, không sử dụng được, trên điện thoại cũng không còn sim. Do vậy, đối tượng C không liên lạc được với bị can P nên không thực hiện mua bán số đề vào ngày 02/8/2023. Đối tượng C mang điện thoại di động Iphone 6 Plus về nhà cho đến khi Công an Quận 11 kiểm tra mời làm việc thu giữ 02 điện thoại trên.

Tại Kết luận giám định số 8632/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, về việc phục hồi dữ liệu điện thoại di động thu giữ của đối tượng L T C, kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, tình trạng điện thoại bị vỡ làm đôi, bung màn hình, không mở được nguồn, không có sim. Với trang thiết bị hiện có, Phòng kỹ thuật hình sự không thể trích xuất dữ liệu trong mẫu vật cần giám định theo yêu cầu”.

Tại Kết luận giám định số 10159/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, về việc phục hồi dữ liệu điện thoại di động hiệu Iphone X, sử dụng số thuê bao 0908402183 thu giữ của đối tượng L T C, kết luận:

“Không khôi phục được dữ liệu của ứng dụng Messenger trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2023 đến hết ngày 02/8/2023.

Tìm thấy dữ liệu gồm: 43 tin nhắn Viber (Qua kiểm tra không có tin nhắn mua bán số đề); 59 tin nhắn điện thoại (Qua kiểm tra có tin nhắn mua bán số đề); 1637 tin nhắn Zalo (Qua kiểm tra không có tin nhắn mua bán số đề); 238 cuộc gọi”.

Qua kiểm tra 59 có tin nhắn điện thoại, xác định được số tiền mua bán số đề của đối tượng C, cụ thể như sau:

Ngày 09/7/2023, đối tượng C bán số đề cho tên Bú của đài miền Bắc là 1.235.000 đồng.

Ngày 13/7/2023, đối tượng C bán số đề cho (Quây) của đài Tây Ninh và An Giang với số tiền 2.160.000 đồng.

Ngày 21/7/2023, đối tượng C bán số đề cho tên Bú của đài Vĩnh Long và Bình Dương với số tiền 2.770.000 đồng; đài miền Bắc là 1.080.000 đồng.

Ngày 23/7/2023, đối tượng C bán số đề cho tên Bú của đài Tiền Giang và Kiên Giang với số tiền 1.800.000 đồng; đài miền Bắc là 2.700.000 đồng.

Vật chứng, đồ vật được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã xử lý:

- Đối với xe môtô biển số 60Z-17078, 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10C thu giữ của đối tượng N H P2. Qua xác minh xe trên do ông Đ Q H đứng tên đăng ký xe, ông H khai xe trên bán cho đối tượng P2 vào ngày 01/7/2008 (có làm giấy mua bán xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Hố Nai 3, huyện Trảng “Bom”, tỉnh Đồng Nai). Qua điều tra xác định tài sản trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã trả tài sản trên cho đối tượng N H P2.

- Đối với xe môtô biển số 52M1-8955, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S thu giữ của đối tượng L N H. Qua xác minh xe trên do bà H S mẹ ruột của đối tượng H đứng tên đăng ký xe. Sau khi bà S chết để lại xe trên cho đối tượng H sử dụng. Qua điều tra xác định tài sản trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã trả tài sản trên cho đối tượng L N H.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone 6 Plus màu trắng bị vỡ làm đôi, bung màn hình, không mở được máy, không có sim; 01 điện thoại hiệu Iphone X màu trắng, có sim số 0908402183 thu giữ của đối tượng L T C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tách ra xử lý riêng.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme UI, có sim số 0931733565; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, có sim số 0906028047, 0903069418 thu giữ của bị can H M P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tách ra xử lý riêng.

Vật chứng, đồ vật được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đang tạm giữ:

- Tiền Việt Nam 12.300.000 đồng, 01 máy tính, 01 cây viết xanh thu giữ của bị can H M P có liên quan đến hành vi đánh bạc.

- 36 tờ biên lai số đề thu giữ của bị can H M P, 01 tờ biên lai số đề thu giữ của đối tượng L N H, 01 tờ biên lai số đề thu giữ của đối tượng N H P2 và 01 tờ biên lai số đề thu giữ của đối tượng N Q H2.

- Một đĩa DVD, đây là đoạn video ghi lại nội dung lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập và đưa vào hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 12/CT-VKSQ11 ngày 12/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can H M P tội danh “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo H M P có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông L N H, ông N H P2 và ông N Q H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm; phạt bổ sung 10.000.000 đồng.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị xử lý vật chứng như sau:

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 12.300.000 đồng.

- Tịch thu, tiêu hủy một máy tính, một cây viết.

- Lưu vào hồ sơ vụ án 39 tờ biên lai số đề.

- Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa DVD.

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 40.000.000 đồng theo Lệnh kê biên số 02/2024/LKB-TAQ11 ngày 23/01/2024 do bị cáo H M P nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 16 giờ 10 phút ngày 02/8/2023, tại nhà số x Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Quận 11 đã bắt quả tang bị cáo H M P đang bán số đề cho đối tượng N Q H2. Trước đó cùng ngày 02/8/2023, bị cáo H M P còn có hành vi bán số đề cho hai đối tượng L N H và N H P2 và nhận tin nhắn ghi số đề cho một số đối tượng khác không rõ lai lịch. Ngoài ra, vào các ngày 10/4/2023 và ngày 30/6/2023 bị cáo H M P còn có hành vi bán số đề cho một số đối tượng khác chưa xác định được lai lịch thông qua hình thức tin nhắn điện thoại.

Hành vi của bị cáo H M P bị Công an Quận 11 phát hiện và bắt giữ trước khi có kết quả mở thưởng của Công ty xổ số kiến thiết ngày 02/8/2023. Đối chiếu kết quả xổ số thì các đối tượng mua số đề không trúng thưởng. Do đó, số tiền dùng vào việc đánh bạc là tổng số tiền mà bị cáo H M P đã ghi và bán số đề được xác định thông qua kiểm tra, đối chiếu số tiền ghi trên các phơi đề và thể hiện tại tin nhắn điện thoại. Số tiền bị cáo H M P bán số đề trong ngày 02/8/2023 được xác định là 19.531.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo H M P có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ là thu lợi bất chính.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Tổng số tiền mà bị cáo H M P dùng vào việc đánh bạc trong ngày 02/8/2023 là 19.531.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp được quy định khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Về xem xét áp dụng hình phạt bổ sung:

Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc và đã được xác định là đã thu lợi bất chính số tiền là 40.000.000 đồng; căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền là 10.000.000 đồng.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính, khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H M P có hành vi đánh bạc (bán số đề) 05 lần; cụ thể được xác định vào ngày 02/8/2023 đánh bạc một lần với số tiền đánh bạc là 19.531.000 đồng; ngày 10/4/2023 đánh bạc hai lần với số tiền đánh bạc lần lượt là 6.233.000 đồng và 14.102.000 đồng; ngày 30/6/2023 đánh bạc hai lần với số tiền đánh bạc lần lượt là 15.429.000 đồng và 9.174.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không sử dụng tiền thu lợi từ việc bán số đề làm nguồn sống chính vì bị cáo có nghề nghiệp ổn định là làm Kế toán cho Công ty TNHH Châu Á Linh (địa chỉ: 163 Trường Chinh, phường Tân Thới Nhất, Quận 12) nên chưa đủ căn cứ để xét xử bị cáo phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp”.

Bị cáo H M P bị xác định đã có hành vi đánh bạc 05 lần; cụ thể được xác định vào các ngày 10/4/2023, ngày 30/6/2023 và ngày 02/8/2023; hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “pham tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về cơ sở xem xét áp dụng án treo đối với bị cáo:

Bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, cho hưởng án treo; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có nhân thân tốt, không có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cũng đủ răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng là một xe môtô biển số 60Z-17078 và một điện thoại di động hiệu Redmi 10C thu giữ của đối tượng N H P2; qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định được xe trên do ông Đ Q H đứng tên đăng ký xe, ông H khai xe trên bán cho đối tượng P2 vào ngày 01/7/2008 (có làm giấy mua bán xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã Hố Nai 3, huyện Trảng “Bom”, tỉnh Đồng Nai). Qua điều tra xác định các tài sản trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã trả tài sản trên cho đối tượng N H P2. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định nên không giải quyết lại.

- Đối với vật chứng là một xe môtô biển số 52M1-8955 và một điện thoại di động hiệu Iphone 6S thu giữ của đối tượng L N H; qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định được xe trên do bà H S mẹ ruột của đối tượng H đứng tên đăng ký xe. Sau khi bà S chết để lại xe trên cho đối tượng H sử dụng. Qua điều tra xác định các tài sản trên không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã trả tài sản trên cho đối tượng L N H. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định nên không giải quyết lại.

- Đối với vật chứng là một điện thoại hiệu Iphone 6 Plus màu trắng bị vỡ làm đôi, bung màn hình, không mở được máy, không có sim; một điện thoại hiệu Iphone X màu trắng, có sim số 0908402183 thu giữ của đối tượng L T C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tách ra xử lý riêng trong một vụ án khác. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định nên không giải quyết lại.

- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Realme UI, có sim số 0931733565; một điện thoại di động hiệu OPPO, có sim số 0906028047, 0903069418 thu giữ của bị cáo H M P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tách ra xử lý riêng trong vụ án khác. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng đúng quy định nên không giải quyết lại.

- Đối với vật chứng là số tiền 12.300.000 đồng thu giữ của bị cáo H M P là tiền do phạm tội mà có. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là một máy tính, một cây viết xanh thu giữ của bị cáo H M P là phương tiện sử dụng vào việc đánh bạc; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu tiêu hủy.

- Đối với vật chứng là 36 tờ biên lai số đề (phơi đề) thu giữ của bị cáo H M P; 01 tờ biên lai số đề (phơi đề) thu giữ của đối tượng L N H, 01 tờ biên lai số đề (phơi đề) thu giữ của đối tượng N H P2 và 01 tờ biên lai số đề (phơi đề) thu giữ của đối tượng N Q H2 là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử giải quyết lưu vào hồ sơ vụ án.

- Đối với vật chứng là một đĩa DVD, đây là đoạn video ghi lại nội dung lấy lời khai của bị cáo và các đương sự khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập và đưa vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.

- Trước khi mở phiên tòa, bị cáo H M P đã tự nguyện làm đơn xin nộp tiền thu lợi bất chính, khắc phục hậu quả số tiền là 40.000.000 đồng và đã được giải quyết nộp số tiền 40.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11 (Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0006104 ngày 23/01/2024). Tòa án nhân dân Quận 11 đã ban hành Lệnh kê biên tài sản số 02/2024/LKB-TAQ11 ngày 23/01/2024. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106, Điều 128 Bộ luật Tố tung hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo H M P, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xem xét vai trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Trong quá trình điều tra bị cáo H M P khai đối tượng tên “Suc” có tên thật là L T C là chủ thầu đề. Tuy nhiên, đối tượng L T C không thừa nhận có tên là “Suc” sử dụng số điện thoại 0792187618 như lời khai nhận của bị cáo P nên chưa đủ cơ sở để xử lý đối với hành vi của đối tượng L T C. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định được đối tượng L T C có hành vi mua bán số đề nhưng chưa xác định được đối tượng cùng thực hiện hành vi đánh bạc với đối tượng Cường. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản đề nghị Công ty Mobifone, Vinaphone và Viettel cung cấp thông tin chủ đăng ký sử dụng sim diện thoại số thuê bao 0906028047, 0903069418, 0931733565, 0792187618 (tên Suc sử dụng), 0984845670 (tên Bom sử dụng), 0908402183, 0918099289 (tên Bú sử dụng), 0908071268 (tên Quây sử dụng) nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của đối tượng tên “Suc”, đối tượng L T C, đối tượng tên “Bom”, đối tượng tên “Bú” và đối tượng tên “Quây” để xử lý sau.

Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiếp tục điều tra để sớm xử lý đối với các đối tượng tên “Suc”, đối tượng L T C, đối tượng tên “Bom”, đối tượng tên “Bú” và đối tượng tên “Quây”.

Đối với hành vi đánh bạc của đối tượng L N H với số tiền là 540.000 đồng, N H P2 với số tiền là 720.000 đồng và N Q H2 với số tiền là 164.000 đồng, chưa đến mức để truy cứu trách nhiệm hình sự. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định được các đối tượng H, P2, H2 không có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc. Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hình chính về hành vi đánh bạc đối với các đối tượng H, P2 và H2 mỗi người 350.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã xử lý đúng quy định nên không xem xét lại.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo H M P;

Tuyên bố bị cáo H M P phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo H M P 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án 31/01/2024.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 107, Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Lưu vào hồ sơ vụ án vật chứng là một đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh video ghi lại nội dung lấy lời khai của bị cáo và các đương sự.

Lưu vào hồ sơ vụ án vật chứng là 39 tờ phơi đề (theo Lệnh nhập kho số 91/LNK-CSHS ngày 27/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Tịch thu tiêu hủy một máy tính, một cây viết xanh (theo Lệnh nhập kho số 91/LNK-CSHS ngày 27/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 12.300.000 đồng (theo Lệnh nhập kho số 91/LNK-CSHS ngày 27/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 40.000.000 đồng (theo Lệnh kê biên tài sản số 02/2024/LKB-TAQ11 ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 11 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0006104 ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo H M P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

(Đã giải thích án treo)./.

Cỡ chữ