- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu L mua bán TPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/HS-ST Ngày: 25-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hưởng và ông Bùi Quang Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng- Kiểm sát viên.
Ngày 25/01/2024 tại trụ sở nhà văn hoá thôn Xuân An, xã Thanh Khê, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2023/TLST-HS ngày 30/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 12/01/2024, đối với bị cáo:
- NGUYỄN HỮU L sinh năm 1990 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định được, con bà Nguyễn Thị L1; vợ là Nguyễn Thị L2 và có một con; tiền án: Bản án số 28/2011/HSST ngày 31/8/2011 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 188/2011/HSST ngày 21/11/2011 của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hợp với hình phạt của bản án số 28/HSST ngày 30/8/2011 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, buộc L phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2013, nộp án phí ngày 30/8/2012. Bản án số 42/2013/HSST ngày 27/9/2013 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2014, nộp án phí ngày 13/3/2014. Bản án số 46/2016/HSST ngày 27/9/2016 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo L kháng cáo, tại Bản án số 119/2016/HSPT ngày 07/12/2016 của TAND tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023, nộp án phí ngày 27/2/2017; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 134/QĐ-XPHC ngày 09/11/2023 của Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt 1.500.000đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-XPHC ngày 08/9/2015 của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an tỉnh Hải Dương xử phạt 1.500.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý; bị tạm giữ từ ngày 03/10/2023 đến ngày 05/10/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Lê Minh Đ, anh Phạm Văn Tr, đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu L là người nghiện ma túy. Sáng ngày 01/10/2023, L đến khu vực Quán Toan, thành phố Hải Phòng mua ma túy, mục đích bán kiếm lợi nhuận. Tại đây, L mua được một gói ma túy với giá 1.500.000đ của một người không quen biết. L cầm số ma túy nói trên mang về nhà ở xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương chia nhỏ số ma túy cho vào các đoạn ống nhựa kích thước 01cm x 02cm, hàn kín hai đầu và cất giấu dưới chiếu giường ngủ của mình, mục đích để bán. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 03/10/2023, khi L đang ở nhà tại thôn V, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ: Một túi nilon bên trong có 30 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, kích thước mỗi đoạn 01cm x 02cm, bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng, L khai nhận là ma túy, mục đích cất giấu để bán kiếm lợi nhuận.
Tại bản Kết luận giám định số 486/KL-KTHS ngày 05/10/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục mầu trắng trong 30 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu được niêm phong trong phong bì tổng khối lượng là 1,218 gam, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKSHD-TH ngày 27/11/2023 VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố L về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo L xác định mục đích cất giấu 1,218 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng, nên chỉ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, đồng thời đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo L từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; tịch thu, tiêu hủy các vật chứng được hoàn lại sau giám định; bi ̣ cáo phải chi ̣u án phi hí nh sự̀
sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về chứng cứ xác định bị cáo L có tội và điều luật áp dụng: Tại phiên toà bị cáo L khai nhận hành vi cất giấu 1,218 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, nên chỉ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo L tại Cơ quan điều tra, lời khai nhận của người làm chứng, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 03/10/2023 tại giường ngủ của Nguyễn Hữu L ở thôn V, xã T, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, L có hành vi cất giấu trái phép 1,218 gam Heroine, mục đích cất giấu để bán kiếm lợi nhuận, hưởng chênh lệch bằng tiền thì bị phát hiện, bắt giữ.
Xét bị cáo L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giấu trái phép 1,218 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để bán kiếm lợi nhuận hưởng chênh lệch bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Xét tại bản án số 119/2016/HSPT ngày 07/12/20216 của TAND tỉnh Hải Dương đã xét xử bị cáo L về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tại bản án đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”, đến nay chưa được xóa án tích, nay bị cáo lại tiếp tục có hành vi phạm tội, vì vậy, hành vi phạm tội lần này của bị cáo L đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy và thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xác định: Bị cáo L là người có nhân thân xấu. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo cơ bản thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải nên HĐXX xem xét cân nhắc cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do thu nhập không đáng kể, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định, 29 đoạn ống nhựa màu xanh, 01 đoạn ống nhựa màu vàng và một vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định; xét đây là vật cấm tàng trữ lưu hành và vật không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
. Về các vấn đề khác: Đối với số ma tuý của L có được do ngày 01/10/2023 L mua của người không quen biết tại thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra chưa làm rõ được tên tuổi địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/10/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: Một bì niêm phong vật chứng số 486/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật sau giám định bên trong có 1,153 gam ma tuý Heroine; 29 đoạn ống nhựa màu xanh (loại ống hút nước); 01 đoạn ống nhựa màu vàng (loại ống hút nước); một vỏ phong bì; một phong bì thư bên trong có 15 ống hút màu đỏ; một dao lam.
Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương ghi ngày 20/12/2023.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bi ̣ cáo Nguyễn Hữu L phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bi ̣ cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thanh Hà; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT, THAHS, HSNV Công an huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; lưu Toà án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Tuân THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |