vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 15/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị N và Trần Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị N và Trần Thanh H phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị N và Trần Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày: 15-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phương

2. Bà Võ Thị Ngọc The

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/HSST-QĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị N (Mai) - sinh ngày 01/01/1976; Giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: Ấp Kinh 7B, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1945 (chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947 (chết); Chồng: Trần Văn L, sinh năm 1979; Con có 01 người sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại điều tra theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Trần Thanh H - sinh ngày 25/8/1998; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Trần Thanh H, sinh năm 1954 và bà Lê Thị V, sinh năm 1956 (chết); Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại điều tra theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt)

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị Thuý K , sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Kinh 7B, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

2. Lê Hồng H , sinh năm 1970 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Kinh 7B, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 10/10/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện T tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Thị N đang có hành vi tổng hợp phơi số lô, số đề tại số nhà 254, thuộc tổ 7, ấp Kinh 7B, xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng gồm: 02 (Hai) tờ giấy tập bên góc trái có chữ Hải Tiến, màu đỏ, bên trên có ghi nhiều con số màu đỏ; 01 (Một) tờ giấy lịch mặt trước có in số 10, mặt sau có ghi nhiều con số màu đỏ; 01 (Một) cuốn tập học sinh ngoài bìa có chữ Măng Non được ghi số thứ tự từ 01 đến 42 bên trong có ghi nhiều con số và chữ viết màu đỏ, màu xanh, các tờ giấy, quyển tập nêu trên đều có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị N và người chứng kiến Nguyễn Hữu T; 01(Một) điện thoại di động OPPO A5, màu đen, kiểu máy CPH 1933, IMEI 1: 060190415488555, IMEI 2: 860169041548548, số Seri: 700BCCE, lắp sim thuê bao số: 0949974740; 01 (Một) cây bút bi màu xanh; 01 (Một) cây bút bi màu đỏ; 01 (Một) cái máy tính hiệu Casio, ký hiệu LC-403TV; Tiền Việt Nam 6.909.000 đồng (Sáu triệu chín trăm lẻ chín nghìn đồng) gồm nhiều mệnh giá. Tài sản trên là của Nguyễn Thị N.

Trong quá trình điều tra, đã xác định được như sau: Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại đăng nhập Zalo nich Tran Bao Bao trực tiếp đứng ra làm thầu bán số lô, số đề (Lô A, lô B, bao lô và số đá) của các đài miền Nam, miền Trung và miền Bắc với hình thức ăn thua bằng tiền, số đầu lô A (là 02 con số xổ của giải tám của đài miền Nam, miền Trung và 02 con số cuối của giải bảy đài Miền Bắc); số đuôi lô B (là 02 số cuối của giải đặc biệt); số lô (02 con số cuối của tất cả các giải số kiến thiết hình thức thắng thua theo tỷ lệ 1/80 lần, tức là người chơi mua 1.000 đồng (Một nghìn đồng) khi trúng thắng được 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng); đối với số đá (là hai cặp số của hai số cuối cùng trong tất cả các dãy số theo kết quả xổ số kiến thiết, mà người mua chọn), hình thức thắng thua theo tỷ lệ 1/500 lần, tức là người chơi mua 1.000 đồng (Một nghìn đồng) khi trúng thắng được 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) Những người tham gia đánh bạc gồm: Trần Thanh H, Nguyễn Thị Thúy K, Lê Hồng H và một số người dân không rõ lai lịch và địa chỉ, như sau:

- Ngày 08/10/2023: Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô số đề đài miền Nam (đài Kiên Giang và Tiền Giang) cho Trần Thanh H, gồm bao lô và số đá với tổng số tiền là: 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) khi có kết quả xổ số không có số trúng. N thu lợi bất chính với số tiền là 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng)

- Ngày 09/10/2023: Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô số đề đài miền Nam miền Trung và miền Bắc cho Nguyễn Thị Thúy K và Lê Hồng H , gồm lô A, lô B, bao lô với tổng số tiền là: 17.737.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng), trong đó: Tiền mua số (tiền xác) là: 11.177.000 đồng, Tiền số trúng: 6.560.000 đồng). N thu lợi bất chính với số tiền là 4.617.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm mười bảy nghìn đồng). Trong đó: bán cho Nguyễn Thị Thuý K và Lê Hồng H với số tiền 4.650.000 đồng, tiền số trúng 5.600.000đồng; số tiền còn lại 7.487.000 đồng Nguyễn Thị N bán cho một số người dân không rõ lai lịch và địa chỉ.

Đài Miền Nam

- Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô số đề đài Đồng Tháp và Cà Mau cho Nguyễn Thị Thúy K, (lô A) với tổng số tiền là: 220.000 đồng, khi có kết quả xổ số không có số trúng. Số tiền đánh bạc giữa N và K (đài miền Nam) trong ngày 09/10/2023 là 220.000 đồng (Hai trăm hai mươi nghìn đồng);

- Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô, số đề đài Đồng Tháp, Cà Mau và Thành phố Hồ Chí Minh cho Lê Hồng H , (lô A, bao lô) nhiều con số, với tổng số tiền là: 1.950.000 đồng (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Kết quả xổ số con số 46 đài Cà Mau trúng 01 lô với số tiền là 10.000 đồng (10.000 đồng x 80.000 đồng = 800.000 đồng). Số tiền đánh bạc giữa N và H đài miền Nam trong ngày 09/10/2023 là 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng);

Đài Miền Trung: Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô, số đề đài Phú Yên và Thừa Thiên Huế (Huế) cho Lê Hồng H , (lô A, bao lô) với tổng số tiền là: 1.640.000 đồng (Một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Kết quả xổ số con số 24 đài Huế trúng với số tiền là 10.000 đồng; con số 20 và 30 đài Phú Yên trúng mỗi con số với số tiền là 10.000 đồng (30.000 đồng x 80.000 đồng = 2.400.000 đồng). Số tiền đánh bạc giữa Nhi và Hạnh (đài Miền Trung) trong ngày 09/10/2023 là 4.040.000 đồng (Bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).

Đài Miền Bắc: Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô, số đề đài Hà Nội cho Lê Hồng H (lô A, bao lô) với tổng số tiền là: 840.000 đồng (Tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Kết quả xổ số con số 35 lô A trúng số tiền là 10.000 đồng; con số 35 bao lô trúng 01 lô số tiền là 5.000 đồng và con số 45 bao lô, trúng 01 lô, với số tiền là 15.000 đồng (30.000 đồng x 80.000 đồng = 2.400.000 đồng). Số tiền đánh bạc giữa N và H trong ngày 09/10/2023 là 3.240.000 đồng (Ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

- Ngày 10/10/2023: Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô số đề đài miền Nam (đài Bạc Liêu, Bến Tre và Vũng Tàu) cho Trần Thanh Hải, Nguyễn Thị Thúy K và Lê Hồng H với số tiền 6.995.000đồng và tiền số trúng là 400.000 đồng, bán cho một số người dân không rõ lai lịch và địa chỉ được 1.195.000 đồng và số tiền trúng 960.000đồng, gồm lô A, lô B, bao lô, số đá, với tổng số tiền là: 8.190.000 đồng, kết quả có số trúng với số tiền là 1.360.000 đồng. Tổng số tiền N đánh bạc là 9.550.000 đồng. Trong lúc N đang tổng hợp phơi đề (chưa nhận tiền từ người mua số và chưa chung tiền số trúng thì bị Công an bắt quả tang.

Trong đó:

- Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô số đề đài Bạc Liêu và Bến Tre cho Trần Thanh H, (bao lô, đá số) với tổng số tiền là: 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng) khi có kết quả xổ số không có số trúng. Số tiền đánh bạc giữa N và H trong ngày 10/10/2023 là 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng).

- Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô số đề đài Bạc Liêu và Bến Tre cho Nguyễn Thị Thúy K, (lô A, bao lô), với tổng số tiền là: 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi nghìn đồng) khi có kết quả xổ số không có số trúng. Số tiền đánh bạc giữa N và K trong ngày 10/10/2023 là 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi nghìn đồng);

- Nguyễn Thị N trực tiếp bán số lô số đề đài Bạc Liêu và Bến Tre và Vũng Tàu cho Lê Hồng H , (lô A, bao lô), với tổng số tiền là: 1.275.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) khi có kết quả xổ số con số 40 đài Vũng Tàu trúng với số tiền là 5.000 đồng (5.000 đồng x 80.000 đồng = 400.000 đồng). Số tiền đánh bạc giữa N và H trong ngày 10/10/2023 là 1.675.000 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 09/CT-VKSTH ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị N và Trần Thanh H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như đã nêu trên. Sau khi phân tích và đánh giá mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 09 tháng đến 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án được xử lý như sau:

Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 6.909.000 đồng (Sáu triệu chín trăm lẻ chín nghìn đồng) gồm nhiều mệnh giá do không liên quan đến vụ án.

Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động OPPO A5, màu đen, kiểu máy CPH 1933, IMEI 1: 060190415488555, IMEI 2: 860169041548548, số Seri: 700BCCE, lắp sim thuê bao số: 0949974740 và 01 (Một) cái máy tính hiệu Casio, ký hiệu LC-403TV; là phương tiện phục vụ cho việc đánh bạc.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây bút bi màu xanh; 01 (Một) cây bút bi màu đỏ. Đây là vật chứng trong vụ án dùng vào việc phạm tội, do không còn giá trị sử dụng.

Riêng 02 (Hai) tờ giấy tập bên góc trái có chữ Hải Tiến, màu đỏ, bên trên có ghi nhiều con số màu đỏ; 01 (Một) tờ giấy lịch mặt trước có in số 10, mặt sau có ghi nhiều con số màu đỏ; 01 (Một) cuốn tập học sinh ngoài bìa có chữ Măng Non được ghi số thứ tự từ 01 đến 42 bên trong có ghi nhiều con số và chữ viết màu đỏ, màu xanh, các tờ giấy, quyển tập nêu trên đều có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị N và người chứng kiến Nguyễn Hữu T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành niêm phong trong một bì thư màu trắng kèm theo hồ sơ vụ án.

Sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát luận tội, các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, biên bản bắt quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại đăng nhập Zalo nich Tran Bao Bao trực tiếp làm thầu bán số lô, số đề (Lô A, lô B, bao lô và số đá) của các đài miền Nam, miền Trung và miền Bắc với hình thức ăn thua 1.000 đồng trúng 80.000 đồng bán cho bị cáo Trần Thanh H và những người chơi khác để thu lợi bất chính 02 lần, như sau:

Ngày 09/10/2023, thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 17.737.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng).

Ngày 10/10/2023, Nguyễn Thị N thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 9.550.000 đồng (Chín triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Bị cáo Trần Thanh H ngày 10/10/2023 mua số đề của bị cáo Nguyễn Thị N bán với số tiền mua số, dùng vào việc đánh bạc là 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm ngàn đồng).

Từ ngày 08/10/2023 đến ngày 10/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị N thu lợi bất chính từ việc đánh bạc với hình thức bán số lô, số đề với số tiền là 7.767.000 đồng.

Ngày 09/10/2023 bị cáo Nhi đánh bạc với số tiền là 17.737.000 đồng là căn cứ để xử lý hình sự đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, ngày 10/10/2023 bị cáo đánh bạc với số tiền 9.550.000 đồng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo N và H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Tân Hiệp truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm vào lĩnh vực trật tự công cộng, các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức được đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật, bởi đây là hình thức đánh bạc ăn thua bằng tiền bị Nhà nước nghiêm cấm, là tệ nạn xã hội, và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình, và dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo là cố ý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm là cần thiết, để răn đe và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án là đồng phạm giản đơn, hành vi phạm tội tự phát, bị cáo Nhi là người trực tiếp bán số đề để thu lợi bất chính, bị cáo Hải là người mua đề. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Xét về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo N thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có cha mẹ là người có công với cách mạng; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hải hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ nghiêm, đủ tính răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động OPPO A5, màu đen, kiểu máy CPH 1933, IMEI 1: 060190415488555, IMEI 2: 860169041548548, số Seri: 700BCCE, lắp sim thuê bao số: 0949974740 và 01 (Một) cái máy tính hiệu Casio, ký hiệu LC-403TV; do vật chứng bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây bút bi màu xanh; 01 (Một) cây bút bi màu đỏ; do vật chứng không còn giá trị sử dụng.

Về biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp lại số tiền 7.767.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) do thu lợi bất chính mà có để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp lại tiền tham gia đánh bạc là 5.100.000đ (Năm triệu một trăm nghìn đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước, bị cáo đã nộp được 2.500.000 đồng, số tiền trên được tạm nộp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) chi nhánh Kiên Giang, phòng giao dịch Tân Hiệp, vào tài khoản số 3949.0.1055190.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , bị cáo còn phải nộp thêm số tiền là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Đối với 02 (Hai) tờ giấy tập bên góc trái có chữ Hải Tiến, màu đỏ, bên trên có ghi nhiều con số màu đỏ; 01 (Một) tờ giấy lịch mặt trước có in số 10, mặt sau có ghi nhiều con số màu đỏ; 01 (Một) cuốn tập học sinh ngoài bìa có chữ Măng Non được ghi số thứ tự từ 01 đến 42 bên trong có ghi nhiều con số và chữ viết màu đỏ, màu xanh, các tờ giấy, quyển tập nêu trên đều có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thị N và người chứng kiến Nguyễn Hữu T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành niêm phong trong một bì thư màu trắng kèm theo hồ sơ vụ án.

Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 6.909.000 đồng (Sáu triệu chín trăm lẻ chín nghìn đồng) khi bị bắt quả tang gồm nhiều mệnh giá, bị cáo N khai nhận là tiền cá nhân để mua đồ làm đám cúng giỗ cho cha chồng; do không liên quan đến vụ án.

Đối với Nguyễn Thị Thúy K và Lê Hồng H , có tham gia mua số đề do bị cáo N bán vào các ngày 09/10/2023 và ngày 10/10/2023, số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển tài liệu, vật chứng liên quan, số tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc đến Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người với số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng); là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị N và Trần Thanh H phạm tội “Đánh bạc”.

1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động OPPO A5, màu đen, kiểu máy CPH 1933, IMEI 1: 060190415488555, IMEI 2: 860169041548548, số Seri: 700BCCE, lắp sim thuê bao số: 0949974740 và 01 (Một) cái máy tính hiệu Casio, ký hiệu LC-403TV.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây bút bi màu xanh; 01 (Một) cây bút bi màu đỏ.

Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số 07/QĐ-VKSTH ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

3. Về biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp lại số tiền 7.767.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) do thu lợi bất chính mà có để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp lại tiền tham gia đánh bạc là 5.100.000đ (Năm triệu một trăm nghìn đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước, bị cáo đã nộp được 2.500.000 đồng, số tiền trên được tạm nộp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) chi nhánh Kiên Giang, phòng giao dịch Tân Hiệp, vào tài khoản số 3949.0.1055190.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , bị cáo còn phải nộp thêm số tiền là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Thị N và Trần Thanh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ