vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre Tuyên án 13/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách đối với bị cáo là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 13/3/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T bị truy tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15 /2024/HS-ST
Ngày: 13/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thu Vân

2. Ông Kiều Công Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Như – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đệ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu T, sinh năm 1997 tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: ấp M, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: làm vườn; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Thúy N, sinh năm 1974. Cùng cư trú: ấp M, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Trần Đăng K, sinh năm 2001; Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Vũ M, sinh năm 1982; Nơi cư trú: ấp M, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

Người làm chứng: Trịnh Thị Kim C, sinh năm 1983; (vắng mặt); Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 17/8/2023, Nguyễn Hữu T điều khiển xe mô tô biển số 71H8-7454 lưu thông trên lộ liên xã P - P theo hướng từ chợ G đi cầu Bưng. Khi đến đoạn lộ thuộc ấp P, xã P, huyện M do thiếu quan sát ở phía trước nên xe của T điều khiển va chạm chị Trần Thị H, sinh năm 1981, cư trú: ấp T, xã H, huyện M đang đi bộ sát mép đường bên trái theo chiều ngược lại làm chị H bị thương cấp cứu tại Bệnh viện N2, đến ngày 18/8/2023 chị H tử vong.

Khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa tương đối bằng phẳng có hệ thống biển báo hiệu đường bộ với chiều rộng mặt đường là 03m. Theo hướng từ ngã tư đường T đi hướng cầu B thì hướng Bắc là hướng đi ngã tư đường T; hướng Nam là hướng đi cầu B; hướng Đông là hướng tiếp giáp phần đất bên lề trái theo hướng B; hướng Tây là hướng tiếp giáp phần đất bên lề phải theo hướng B.

Việc khám nghiệm hiện trường được tiến hành theo hướng B. Tất cả các dấu vết, phương tiện được đo vào mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm; trụ điện số 31 được chọn làm mốc cố định.

Xe mô tô biển số 71H8-7454 được xác định đỗ bên lề phải theo hướng khám nghiệm. Đầu xe quay về hướng N1; tâm trục bánh trước cách mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm là 0,9m và cách trụ điện số 31 là 25,1m; tâm trục bánh sau cách mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm là 01m; đuôi xe quay về hướng B.

Trụ biển báo chỗ ngoặc nguy hiểm nằm ở phần đất bên lề phải theo hướng khám nghiệm, cách tâm trục bánh sau xe mô tô biển số 71H8-7454 là 4,4m.

Trụ điện số 31 nằm ở phần đất bên lề phải theo hướng khám nghiệm cách tâm trục bánh trước xe mô tô biển số 71H8-7454 là 25,1m.

Khám nghiệm phương tiện xe mô tô tải biển số 71H8-7454:

Mặt ngoài má gương chiếu hậu bên trái có vết trầy xước, điểm thấp nhất cách đất 1,1m.

Đầu tay phanh bên phải có vết mài mòn, điểm thấp nhất cách đất 0,98m.

T1 kim loại đầu tay cầm bên trái bị tuột khỏi vị trí ban đầu, điểm thấp nhất cách đất 0,93m.

Đầu càng phanh chân bên phải có vết ma sát mới.

Đầu gác chân trước bên phải có vết trầy xước ma sát mới.

Ốp cao su gác chân trước bên trái có dính vết đất cát.

Vật chứng:

01 xe mô tô biển số 71H8-7454, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE X, màu đỏ bạc đen (thuộc sở hữu của anh Trần Vũ M, đã trả).

Kết luận giám định tử thi số 142/KLGĐTT-KTHS ngày 30/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Nạn nhân Trần Thị H chết do chấn thương sọ não gây xuất huyết, tụ máu nội sọ và giập nhu mô não.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 17/8/2023 của bà Trần Thị H: là 284mg/100mL (61,63 mmol/L).

Công văn số 1847/BVNĐC-KHTH ngày 23/8/2023 của Bệnh viện N2 cung cấp: Nguyễn Hữu T vào ngày 17/8/2023 không có vào bệnh viện khám và điều trị nên không có kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu. Nguyễn Hữu T khai không có sử dụng rượu bia hay chất kích thích nào khác trước khi tham gia giao thông.

Nguyễn Hữu T đã tự nguyện bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Trần Đăng K số tiền là 40.000.000 đồng. Anh K tự nguyện viết đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho T.

Tại cáo trạng số 12/CT-VKSMCB, ngày 30/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Tòa ghi nhận trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho chủ sở hữu là anh Trần Vũ M 01 xe mô tô biển số 71H8-7454, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE X, màu đỏ bạc đen.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hữu T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 40.000.000 đồng, đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự; anh Trần Vũ M đã nhận lại xe mô tô biển số 71H8-7454, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE X, màu đỏ bạc đen và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên đề nghị Tòa không xem xét.

Tại Tòa bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát nhưng có yêu cầu xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Vũ M trình bày: anh đã nhận lại chiếc xe thuộc sở hữu của mình nên không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Hữu T nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19 giờ ngày 17/8/2023 trên lộ liên xã P - P thuộc ấp P, xã P, huyện M, Nguyễn Hữu T đã có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 71H8-7454 do không chú ý quan sát phía trước (vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 4 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ) dẫn đến va chạm với chị Trần Thị H đang đi bộ sát mép đường bên trái theo chiều ngược lại, làm chị H té ngã chấn thương sọ não dẫn đến tử vong.

Vì vậy, Cáo trạng số: 12/CT-VKSMCB, ngày 30/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố bị cáo bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người”.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông công cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Hơn nữa, hành vi điều khiển xe thiếu quan sát, cẩn thận của bị cáo đã để lại hậu quả nặng nề, gây mất mát đau thương cho gia đình nạn nhân mà không gì bù đắp được. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét một cách toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Hữu T là người có nhân thân tốt thể hiện ở việc bị cáo không có tiền án, tiền sự; sau sự việc xảy ra khi bị cáo biết bị hại tử vong đã tự nguyên bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình; có ông cố ngoại được tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất và hạng ba, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba và Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đầy nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Hữu T là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Vì vậy bị cáo có đủ các điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội. Tuy nhiên, để có thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng vẫn cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong suốt thời gian chấp hành thử thách.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy sau khi vi phạm, bị cáo luôn tỏ rõ sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, kịp thời khắc phục thiệt hại về vật chất và tinh thần cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn yêu cầu đề nghị miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo mới phạm tội lần đầu nên xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận: trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả cho chủ sở hữu là anh Trần Vũ M 01 xe mô tô biển số 71H8-7454, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE X, màu đỏ bạc đen.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Hữu T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 40.000.000 đồng, đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự; anh Trần Vũ M đã nhận lại xe mô tô biển số 71H8-7454, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE X, màu đỏ bạc đen và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách đối với bị cáo là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 13/3/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre là nơi bị cáo Nguyễn Hữu T cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong suốt thời gian chấp hành thử thách.

Trường hợp trong thời gian thử thách nếu bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự và cũng trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận:

Trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giao trả: cho chủ sở hữu là anh Trần Vũ M 01 xe mô tô biển số 71H8-7454, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE X, màu đỏ bạc đen.

[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ