vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 19/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức C 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/12/2023. Quyết định tạm giam bị cáo sau phiên toà để đảm bảo việc Thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự Nguyễn Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày: 19-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dong

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Bằng

2. Ông Hà Long Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòa An đối với bị cáo:

Nguyễn Đức C (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 29 tháng 10 năm 1974 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ 10, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1936 (đã chết năm 2018) và bà Hoàng Thị N sinh, năm 1942; trú tại tổ 10, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Nguyễn Thị Đ sinh năm 1976 (đã chết năm 2020); Con: có 01 con Nguyễn Đức T, sinh năm 1996; Anh chị em ruột: Có 04 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 03/3/2020 bị Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Bị cáo Nguyễn Đức C bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hoà An từ ngày 18/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Đức T; sinh ngày 12/10/1996; (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ 10, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma tuý, Công an huyện Hoà An phối hợp với Công an xã Đ làm nhiệm vụ tại khu vực xóm M, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: 02 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (C khai đây là Heroine), đem cân có khối lượng 0,1988g (không phẩy một chín tám tám gam), thu giữ tại túi áo ngực bên phải của C mặc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Dream màu nâu, biển kiểm soát 11F1-3063; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Lennovo, màu hồng có gắn số thuê bao 0368.887.686.

Quá trình điều tra xác định: khoảng 8 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 11F1-3063 từ nhà đến khu vực B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng để uống nước. Tại đây, C gặp một người đàn ông (không quen biết) cũng ngồi uống nước cùng quán. Qua nói chuyện, C biết người này có số điện thoại của người bán Heroine nên hỏi lấy, người này cung cấp cho C số thuê bao 0879.447.560. Do muốn có Heroine để sử dụng nên C đã dùng điện thoại của mình có số thuê bao 0368.887.686 gọi cho số thuê bao để hỏi mua Heroine thì thấy một người đàn ông nghe máy. Người này hẹn C đến khu vực xóm M, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng để trao đổi mua ma tuý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Đức C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11F1-3063 đi từ nhà đến chỗ hẹn để gặp người đàn ông, C đưa cho người này 200.000 đồng, người này đưa lại cho C 02 gói nhỏ Heroine được gói trong giấy bạc màu trắng. C cất giấu 02 gói Heroine vừa mua được vào trong túi áo khoác trước ngực phía bên phải đang mặc và quay trở về nhà thì bị Công an huyện Hoà An bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.

Ngày 18/12/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoà An ra Quyết định trưng cầu giám định số 77/QĐ - ĐCSHS - KTMT đối với vật chứng của vụ án. Tại bản kết luận giám định số 25/KL-KTHS, ngày 25/12/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận:“Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Bản cáo trạng số: 15/CT-VKSHA ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước phong bì ghi: “Hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Đức C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 18/12/2023”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.

+ Hoàn trả cho chủ sở hữu anh Nguyễn Đức T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Dream, màu nâu, gắn biển kiểm soát11F1- 3063, kiểm tra cốp xe không có đồ vật, tài sản. (Đèn pha xe bị vỡ, bên phải xe không có gương chiếu hậu) do xe này không liên quan đến việc phạm tội.

+ Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Lenovo, màu hồng, số IMEI 1: 869876030752458; số IMEI 2: 869876030752466; gắn số thuê bao: 0368.887.686, màn hình bị nứt, vỡ, điện thoại đã qua sử dụng, mặt sau có nhiều vết xước.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh cũng như mức hình phạt; Tuy nhiên, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội trở lại với cộng đồng là công dân lương thiện có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Hòa An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành Tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo đã thực hiện, tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, xác định được như sau: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tại khu vực xóm M, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nguyễn Đức C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1988g (Không phẩy một chín tám tám gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 0,1988 gam heroine của bị cáo là rõ ràng, bị bắt trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng đã truy tố là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)....

c)Heroine, Cocaine, Methaphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội và gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo là người không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, ngày 03/3/2020, bị cáo bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng (Đã thi hành xong) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội. Xét hành vi này tính đến ngày bị cáo phạm tội thì bị cáo đã chấp hành xong đến nay đã được coi là không có tiền án, tiền sự. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Với khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 0,1988 gam nên khi xem xét mức hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm, xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền là hình phạt bổ sung. Xét thấy, bị cáo bản thân nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

Liên quan đến vụ án này, đối với người đàn ông cho bị cáo số điện thoại để liên hệ mua ma tuý và người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo, do không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể qua xác minh số điện thoại 0879.477.560 có chủ thuê bao mang tên Nguyễn Thị X (địa chỉ: phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh) nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoà An đang tiếp tục xác minh, nếu đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý trong vụ án khác. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước phong bì ghi: “Hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Đức C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 18/12/2023”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Đây là chất Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Dream, màu nâu, gắn biển kiểm soát 11F1- 3063, kiểm tra cốp xe không có đồ vật, tài sản. (Đèn pha bị vỡ, bên phải xe không có gương chiếu hậu). Xe này, do anh T đưa tiền cho mẹ mua, hiện nay gia đình chỉ có một xe duy nhất sử dụng làm phương tiện đi lại phục vụ cho cả gia đình và anh T không biết việc bị cáo mượn xe để đi mua ma tuý do đó cần hoàn trả cho anh Nguyễn Đức T là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với: 01(một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Lenovo, màu hồng, số IMEI 1: 869876030752458; số IMEI 2: 869876030752466; gắn số thuê bao: 0368.887.686, màn hình bị nứt, vỡ, điện thoại đã qua sử dụng, mặt sau có nhiều vết xước. Bị cáo dùng điện thoại này để liên lạc mua ma tuý nên cần tịch thu, phát mại để sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức C 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/12/2023. Quyết định tạm giam bị cáo sau phiên toà để đảm bảo việc Thi hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước phong bì ghi:“Hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Đức C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 18/12/2023”. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng

- Hoàn trả cho anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1996, có địa chỉ: Tổ 10, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Dream, màu nâu, gắn biển kiểm soát 11F1- 3063, kiểm tra cốp xe không có đồ vật, tài sản. (Đèn pha bị vỡ, bên phải xe không có gương chiếu hậu).

- Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Lenovo, màu hồng, số IMEI 1: 869876030752458; số IMEI 2: 869876030752466; gắn số thuê bao: 0368.887.686, màn hình bị nứt, vỡ, điện thoại đã qua sử dụng, mặt sau có nhiều vết xước.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa An theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 17 ngày 21/5/2024.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ