vanban.org

Bản án 15/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 21/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khoả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Dũng vi phạm QĐ về tham gia GT đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Trong thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-PT
Ngày: 21/3/2024
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Lệ Thu

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Tùng

Ông Hồ Đức Quang

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu D do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hữu D, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1995, tại Hà Tĩnh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến S, sinh năm: 1964 và bà Thái Thị L, sinh năm: 1971; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ: Đặng Thị O, sinh năm: 1996 và 01 người con sinh năm: 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 28/6/2023, Nguyễn Hữu D điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38C - 182.31 đi theo đường ĐT550 hướng từ huyện H xuống thành phố H trên làn đường dành cho xe cơ giới phía bên phải theo chiều di chuyển, với tốc độ khoảng 45 - 50km/h. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, xe ô tô 38C - 182.31 đi đến ngã tư giao nhau giữa đường ĐT550 với đường liên xã thuộc địa phận thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Lúc này trời đã tối nhưng có ánh sáng đèn đường, thời tiết khô ráo và mật độ phương tiện tham gia giao thông thưa thớt. Nguyễn Hữu D bật đèn chiếu sáng phía trước và quan sát không thấy phương tiện nào nên giữ nguyên tốc độ xe ô tô để đi vào ngã tư. Khi đi qua ngã tư khoảng 20 mét, phát hiện tại nhà người quen ở phía bên phải đường theo chiều di chuyển đang có rạp đám cưới nên Nguyễn Hữu D tập trung nhìn vào đó mà không chú ý quan sát về phía trước. Cùng lúc này, bà Nguyễn Thị C (sinh năm: 1955, trú tại thôn L, xã L, huyện T) đi bộ từ nhà ở ngõ phía bên phải đường ĐT550 (theo hướng đi của D) ra đường ĐT550 rồi đi qua đường sang phía bên trái đường ĐT550 (theo hướng đi của D). Khi gần đến rạp đám cưới, bà C tiếp tục đi bộ qua đường (bà C bị tàn tật, chân cao – thấp nên đi chậm) theo hướng từ trái qua phải theo chiều đi của xe ô tô 38C - 182.31 để đến rạp đám cưới nói trên.

Vào lúc 20 giờ 04 phút cùng ngày, khi xe ô tô 38C - 182.31 vừa đi qua rạp đám cưới, Nguyễn Hữu D nhìn về lại đường của D đang đi thì thấy bà Nguyễn Thị C đang đi bộ phía trước, cách đầu xe ô tô 38C - 182.31 khoảng 01 mét. Theo phản xạ, D đánh lái điều khiển xe ô tô sang trái để tránh bà C, nhưng do khoảng cách quá gần nên phía trước đầu xe ô tô 38C - 182.31 đã húc vào người bà C theo hướng từ phải qua trái; bà C bị hất văng, trượt về phía trước, lúc này D mới kịp đạp phanh dừng xe ô tô lại. Hậu quả của vụ tai nạn làm bà Nguyễn Thị C bị tử vong trên đường đi cấp cứu.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường do CQCSĐT Công an huyện T lập hồi 20h30 ngày 28/6/2023 phản ánh:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông (TNGT) được ghi nhận tại Km19+550 đường ĐT550 thuộc địa phận thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Đường được rải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn rộng, thông thoáng; được chia thành 4 làn đường, gồm 2 làn đường ở giữa, mỗi làn rộng 3,5 mét; 02 làn đường ở ngoài mỗi làn rộng 02 mét. Các dấu vết của vụ TNGT nằm trên phần đường bên phải đường ĐT550 hướng từ huyện H đi thành phố H.

Lấy chân cột cáp quang ký hiệu M10 ở mép đường bên phải đường ĐT550 hướng huyện H đi thành phố H làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải đường ĐT550 hướng huyện H đi thành phố H làm mép đường chuẩn. Hiện trường được mô tả theo hướng từ huyện H đi thành phố H theo thứ tự các dấu vết được đánh số trên sơ đồ hiện trường như sau:

Từ điểm mốc đo đến tâm trục bánh sau, bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 38C

- 182.31 là 9,40 mét. Xe ô tô 38C - 182.31 được ký hiệu số (1) trên sơ đồ hiện trường. Xe ô tô (1) nằm trên làn đường ở giữa của phần đường bên phải theo hướng mô tả, đầu xe hướng về thành phố H và chếch về phía bên trái theo hướng mô tả; đuôi xe hướng về huyện H và chếch về mép đường chuẩn. Từ tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô (1) đo vào mép đường chuẩn là 3,30 mét; từ tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô (1) đo vào mép đường chuẩn là 3,60 mét.

Từ tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô (1) đo đến điểm đầu vết trượt là 3,50 mét. Vết trượt được ký hiệu số (2) trên sơ đồ hiện trường. Vết (2) nằm trên làn đường ở giữa của phần đường bên phải theo hướng mô tả. Vết (2) có dạng đường thẳng màu nâu, chiều hướng theo hướng mô tả, có kích thước (3,65 x 0,02) mét. Từ điểm đầu vết (2) đo vào mép chuẩn là 3,10 mét, từ điểm cuối vết (2) đo vào mép chuẩn là 2,80 mét.

Từ điểm đầu vết (2) đo đến tâm vết máu là 3,50 mét. Vết máu được ký hiệu số (3) trên sơ đồ hiện trường. Vết (3) có màu đỏ sẫm, còn tươi, không rõ hình dạng, kích thước (0,25 x 0,22) mét. Từ tâm vết (3) đo vào mép đường chuẩn là 2,80 mét. Điểm cuối vết (2) trùng với tâm vết (3).

Ngoài ra, tại hiện trường còn ghi nhận trước vị trí xảy ra TNGT về phía hướng đi huyện H 42 mét có 01 ngã tư giao nhau.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường xác định vị trí va chạm khi xảy ra TNGT là trên làn đường dành cho xe cơ giới phía bên phải hướng từ huyện H đi thành phố H.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị C lập hồi 21 giờ 30 phút, ngày 28/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phản ánh:

Vùng má bên phải, ngay đuôi mắt phải có đám sưng nề, bầm tụ máu, xây xát da trên diện: 11cm x 7cm; Hốc mắt phải bầm tụ máu; Tai, mũi có máu chảy ra; Vùng má bên phải, ngay khóe miệng có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước: 5cm x 4cm; Ngay chính giữa vùng cằm, cách bờ môi dưới 4cm có vết thương rách da, kích thước: 3cm x 1cm; Trật đốt sống cổ 3, 4, 5; Mặt sau vai phải, cách dưới bờ vai 1cm, cách trong mỏm cùng vai 1cm có đám xây xát da, kích thước: 9cm x 3cm; Gãy 1/3 ngoài xương đòn bên phải; Gãy sập cung trước xương sườn số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 bên trái; Vùng thắt lưng hông bên phải, cách trên gai chậu trước trên bên phải 5cm có vết xây xát da, kích thước: 8cm x 3cm; Vùng mông bên phải, cách ngoài gai chậu sau trên bên phải 3cm có đám sưng nề bẩm tụ máu, trên diện: 5cm x 4cm; Mặt ngoài từ khuỷu tay xuống đến mu bàn tay bên phải có một số vết xây xát da nằm rải rác; Mu bàn tay trái có một số vết xây xát da nằm rải rác; Trật khớp háng chân trái; Mặt ngoài 1/3 trên đùi phải, cách dưới gai chậu trước trên bên phải 6cm có vết xây xát da, kích thước: 7cm x 6cm; Mu bàn chân hai bên có một số vết xây xát da nằm rải rác. Giải phẩu vùng ngực: Tụ máu dưới da vùng ngực bên trái; Gãy sập cung trước xương sườn số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 bên trái; Trong khoang ngực chứa nhiều máu.

- Bản kết luận giám định số 630/KL-KTHS ngày 30/6/2023, của phòng K Công an tỉnh H xác định: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị C là do đa chấn thương.

- Bản kết luận giám định số 671/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của phòng K Công an tỉnh H phản ánh: Dấu vết máu ký hiệu M (thu giữ tại hiện trường vụ tai nạn) gửi tới giám định là máu người, thuộc nhóm A trong hệ nhóm máu ABO, cùng nhóm máu của mẫu máu thu được từ tử thi bà Nguyễn Thị C.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ TNGT đối với xe ô tô biển kiểm soát 38C - 182.31 lập ngày 29/6/2023 của CQCSĐT Công an huyện T phản ánh:

Nắp capo phía trước có dấu vết móp lõm, kích thước (50 x 66)cm, chiều hướng từ trước ra sau; tâm dấu vết cách mặt đất 111cm; cách thành đầu xe phía bên trái 88,5cm. Trên nền dấu vết móp lõm có bám dính dấu vết lông tóc, chất nôn. Tại vị trí lưới tản nhiệt phía trước, phía trên logo có dấu vết nứt vỡ nhựa dài 04cm; tâm dấu vết cách mặt đất là 103cm, cách thành đầu xe bên trái 89cm. Tại vị trí phần giữa của lưới tản nhiệt, phía trên biển kiểm soát phía trước có dấu vết nứt, vỡ nhựa, kích thước (6,5 x 01)cm; chiều hướng từ trước ra sau; tâm dấu vết cách mặt đất 86cm, cách thành đầu xe bên trái 83cm. Biển kiểm soát phía trước cong vênh, chiều hướng từ trước ra sau. Tại vị trí phần giữa của lưới tản nhiệt, phía dưới biển kiểm soát phía trước có dấu vết nứt vỡ nhựa dài 5,5cm; tâm dấu vết cách mặt đất 55cm, cách thành đầu xe bên trái 84,5cm. Phần dưới ba đơ xốc phía trước có dấu vết trượt mất bụi, kích thước (30 x 17)cm, chiều hướng từ dưới lên trên, từ trước ra sau; tâm dấu vết cách mặt đất 47cm, cách thành xe bên trái 80cm. Ốp nhựa phía dưới đèn sương mù phía trước, bên trái bị bung định vị.

Kiểm tra bên ngoài và bên trong xe không gắn camera giám sát hành trình.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, phanh, còi, đèn, lốp, gương, gạt mưa hoạt động bình thường.

- Bản kết luận giám định số 663/KL-KTHS ngày 12/7/2023 của phòng K Công an tỉnh H, kết luận:

+ Xe ô tô biển kiểm soát 38C - 182.31 và bà Nguyễn Thị C có va chạm với nhau. Nắp capo phía trước của xe ô tô 38C - 182.31 với vùng mặt của bà Nguyễn Thị C là vị trí va chạm. Xe ô tô va chạm với bà Nguyễn Thị C theo chiều từ phải sang trái.

+ Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 38C - 182.31 và bà Nguyễn Thị C nằm trên làn đường thứ 2 (tính từ mép đường chuẩn) đường ĐT550 chiều từ huyện H đi thành phố H.

Kết quả đo nồng độ cồn, xét nghiệm ma túy ngày 28/6/2023 xác định: Tại thời điểm điều khiển phương tiện gây tai nạn, Nguyễn Hữu D không sử dụng rượu, bia hay chất kích thích gì khác.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 19/10/2021, Nguyễn Hữu D đã được Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp Giấy phép lái xe hạng C số 400139048234. Ngày 22/5/2023, trong quá trình điều khiển xe ô tô tham gia giao thông tại tỉnh Hòa Bình, Nguyễn Hữu D đã vi phạm với lỗi vượt quá tốc độ cho phép 67/50 km/h, bị phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh H lập biên bản vi phạm hành chính và tạm giữ Giấy phép lái xe hạng C của D. Theo biên bản vi phạm hành chính lập ngày 22/5/2023 của Công an tỉnh H thể hiện yêu cầu D phải có mặt tại phòng CSGT Công an tỉnh H vào lúc 08 giờ, ngày 30/5/2023 để giải quyết vụ việc nhưng vì lý do công việc nên D không có mặt để giải quyết vụ việc theo yêu cầu. Sau khi tai nạn xảy ra, D đã liên hệ Công an tỉnh H và được biết ngày 30/5/2023, phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh H ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền Nguyễn Hữu D 5.000.000 đồng và tước Giấy phép lái xe thời hạn 02 tháng kể từ ngày 30/5/2023 đến ngày 30/7/2023. Sau đó D đã tiến hành nộp phạt qua dịch vụ công trực tuyến. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi bởi điểm b, khoản 32, Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP) thì trường hợp của Nguyễn Hữu D được coi là không có giấy phép lái xe.

Tài liệu, vật chứng đã thu giữ:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại TRITON GLX, màu cam, biển kiểm soát 38C - 182.31, đã qua sử dụng cùng 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 bản gốc giấy chứng nhận kiểm định và 01 bản gốc giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô 38C - 182.31.

- 01 Giấy phép lái xe hạng C, số D, mang tên Nguyễn Hữu D do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 19/10/2021;

- 02 đĩa DVD lưu 02 video ghi lại diễn biến vụ TNGT thu giữ từ camera giám sát xung quanh khu vực xảy ra tại nạn giao thông.

Ngày 09/8/2023, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, CQCSĐT Công an huyện T đã trả xe ô tô biển kiểm soát 38C - 182.31 kèm theo các giấy tờ có liên quan nói trên cho chủ sở hữu là Nguyễn Hữu D. Đối với Giấy phép lái xe của Nguyễn Hữu D và 02 đĩa DVD lưu 02 video ghi lại diễn biến vụ TNGT được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc xảy ra bị cáo Nguyễn Hữu D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Thị C số tiền 70.000.000 đồng. Đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Tuyên bố: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định, ngày 11/12/2023 bị cáo Nguyễn Hữu D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu D, sửa một phần Bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 25 (hai mươi lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 (năm mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo không có nội dung tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được sai phạm và rất ân hận về hành vi của mình. Hiện nay hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn, vợ bị cáo mới sinh con nhỏ được 06 tháng tuổi và hiện nay đang mang thai ở tháng thứ 02, chỉ ở nhà chăm con; bố đẻ bị cáo hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo, thường xuyên phải điều trị và mất sức lao động. Bị cáo là lao động chính, đang làm việc để nuôi cả gia đình. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội cải tạo ngoài xã hội; có cơ hội lao động chăm lo cho gia đình và sửa chữa những lỗi lầm mình đã gây ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về căn cứ pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại các phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

. Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

. Xét nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mà mình thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 20 giờ 04 phút ngày 28/6/2023, tại Km19+550 đường ĐT550 thuộc địa phận thôn L, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Hữu D đã có hành vi điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 38C – 182.31 tham gia giao thông đường bộ nhưng không chú ý quan sát, không chấp hành các quy định của Luật giao thông đường bộ nên đã gây ra vụ tai nạn giao thông với bà Nguyễn Thị C (đang đi bộ qua đường), hậu quả khiến bà C tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu D đã vi phạm các quy định tại khoản 9, khoản 23 Điều 8 về “Các hành vi nghiêm cấm”, khoản 4 Điều 11 về “Chấp hành biển báo hiệu đường bộ” của Luật giao thông đường bộ; khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về “Các trường hợp phải giảm tốc độ”. Do tại thời điểm gây tai nạn Nguyễn Hữu D đang trong thời gian bị Công an tỉnh H tước giấy phép lái xe nên thuộc trường hợp được coi là không có giấy phép lái xe.

Bị cáo Nguyễn Hữu D là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ, không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi, trực tiếp gây ra tai nạn, hậu quả làm chết người với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, quyền được tôn trọng, bảo vệ sức khỏe của con người. Do đó, việc Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức hình phạt 25 (hai mươi lăm) tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có căn cứ.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có ông ngoại (ông Thái H) được tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo mới sinh con nhỏ được 06 tháng tuổi và hiện nay đang mang thai ở tháng thứ 02, chỉ ở nhà chăm con; bố đẻ bị cáo hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo, thường xuyên phải điều trị và mất sức lao động, có xác nhận của chính quyền địa phương xã S nơi bị cáo cư trú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét cho bị cáo. Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã chủ động thi hành một phần bản án sơ thẩm về việc nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới của bị cáo sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, thể hiện thái độ tích cực, chấp hành pháp luật của bị cáo. Bên cạnh đó trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Hữu D thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình; sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng và được đại diện gia đình bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú ổn định. Để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật; tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội, có cơ hội lao động chăm lo cho gia đình và sửa chữa lỗi lầm đã gây ra; Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu D được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu D, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh .

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 25 (hai mươi lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 (năm mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, khoản 2 Điều 21, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Hữu D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- TAND Cấp cao tại Hà Nội;

Cỡ chữ