- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đồng Thị Mỹ H xin ly hôn anh Hoàng Văn T"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đồng Thị Mỹ H được ly hôn anh Hoàng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST. Ngày 17-7-2024. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Quốc Tuấn;
2. Bà Lường Thị Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Nguyên Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đồng Thị Mỹ H, sinh năm 1999.
Địa chỉ bản C, xã S, thị xã N, tỉnh Y; “Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt”.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1994.
Địa chỉ bản C, xã S, thị xã N, tỉnh Y; “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị Đồng Thị Mỹ H trình bày:
+ Quan hệ hôn nhân: Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sơn A, thị xã Nghĩa Lộ, vào ngày 12 tháng 12 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại bản C, xã S; trong cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh T thường xuyên uống rượu rồi đánh đập chị H, mâu thuẫn giữa hai người đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần, nhưng anh T không thay đổi, lần gần nhất là vào đầu năm 2024 sau khi uống rượu, anh T dùng dao chém vào chân chị H; do không thể tiếp tục cùng chung sống nên chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và hai người đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể cùng chung sống với anh T được nữa, nên chị đề nghị được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
+ Con chung: Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T có 02 con chung là Hoàng Hiểu L, sinh ngày 21/6/2019 và Hoàng Đức P, sinh ngày 07/11/2021. Hiện chị H đang nuôi dưỡng cháu P còn anh T đang nuôi dưỡng cháu L; sau khi ly hôn chị H đề nghị chị H là người nuôi dưỡng cháu P và giao anh T nuôi dưỡng cháu L. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Tài sản chung và nợ chung: Chị Đồng Thị Mỹ H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai anh Hoàng Văn T trình bày:
+ Quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn, quá trình chung sống giữa anh T và chị H đúng như chị H trình bày; còn mâu thuẫn mới phát sinh từ năm 2023, nguyên nhân do vợ chồng nợ nần và đến tháng 2/2024 chị H về nhà bố mẹ đẻ để ở. Nay chị H xin ly hôn anh không nhất trí, anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.
+ Con chung: Anh Hoàng Văn T không nhất trí ly hôn, nên anh T không có ý kiến gì.
+ Tài sản chung và nợ chung: Anh T không đề nghị giải quyết.
- Biên bản xác minh ngày 07/6/2024 tại bản C, xã S: Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T đều đăng ký hộ khẩu tại bản C, xã S, thị xã N; trong cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh T có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh anh T sau khi uống rượu có đánh đập chị H; mâu thuẫn giữa hai người cũng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng địa phương không rõ kết quả như thế nào vì gia đình cũng không nhờ địa phương hòa giải. Từ sau tết nguyên đán năm nay chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở và mang theo 01 con; hiện hai người đã sống ly thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ phát biểu quan điểm:
Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Điều luật áp dụng: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đồng Thị Mỹ H được ly hôn anh Hoàng Văn T.
- Con chung: Giao cháu Hoàng Đức P, sinh ngày 07/11/2021 cho chị Đồng Thị Mỹ H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục;
Giao cháu Hoàng Hiểu L, sinh ngày 21/6/2019 cho anh Hoàng Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục;
Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung có nhau.
- Tài sản chung và nợ chung: Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đồng Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tố tụng: Chị Đồng Thị Mỹ H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia xét xử lần hai nhưng vắng mặt, không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Quan hệ hôn nhân: Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sơn A, thị xã Nghĩa Lộ, vào ngày 12 tháng 12 năm 2017 và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, hôn nhân của chị H và anh T là hợp pháp.
Trong cuộc sống chung vợ chồng giữa chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T sau uống rượu rồi nhiều lần đánh đập chị H. Mâu thuẫn giữa chị H và anh T ngày càng trầm trọng, nên đến đầu năm 2024 chị H về nhà bố mẹ đẻ để ở và hai người sống ly thân từ đó cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã thật sự trầm trọng; đời sống chung vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Đồng Thị Mỹ H được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
Con chung: Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T có 02 con chung là Hoàng Hiểu L, sinh ngày 21/6/2019 và Hoàng Đức P, sinh ngày 07/11/2021.
Đối với yêu cầu của chị H đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và giao anh T nuôi dưỡng cháu L; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đề nghị này của chị H là phù hợp với quyền làm cha, làm mẹ được pháp luật quy định và phù hợp thực tế hiện chị H và anh T đã trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, nên Hội đồng xứt xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận đề nghị của chị H.
Tài sản chung và nợ chung: Chị Đồng Thị Mỹ H và anh Hoàng Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Chị Đồng Thị Mỹ H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 262, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đồng Thị Mỹ H được ly hôn anh Hoàng Văn T.
2. Con chung: Xử giao cho chị Đồng Thị Mỹ H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Đức P, sinh ngày 07/11/2021;
Xử giao cho anh Hoàng Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Hiểu L, sinh ngày 21/6/2019;
Chị Đồng Thị Mỹ H, anh Hoàng Văn T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí: Chị Đồng Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai số 0000856 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Nghĩa Lộ; chị H đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND TX Nghĩa Lộ; - Chi cục THADS TX Nghĩa Lộ; - UBND xã S; - Các đương sự; - Lưu Hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |