- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 228, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-3-2024 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 12/3/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-DS ngày 22/02/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1996 (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1996 (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày: Chị kết hôn với anh Hoàng Văn T ngày 11/11/2016, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 11/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không hòa thuận được để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 7/2023. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hoàng Kỳ A, sinh ngày 27/12/2016 và Hoàng Thanh L, sinh ngày 05/4/2018. Hiện các con đang ở cùng anh T, các cháu khoẻ mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn chị để anh T nuôi cả hai con chung, chị sẽ có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng Thanh L với mức là 1.000.000đ/ 1 tháng kể từ tháng 4/2024 đến khi cháu L 18 tuổi theo đúng yêu cầu của anh T. Hiện chị đang làm công nhân tại Công ty Samsung Bắc Ninh, thu nhập bình quân 8.000.000đ/1 tháng. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Hoàng Văn T trình bày: Chị D trình bày về thời gian kết hôn và quá trình mâu thuẫn là đúng. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị D. Về con chung: Như chị D trình bày là đúng, nay ly hôn nếu mỗi người nuôi một con, thì anh không đề nghị Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Nếu anh nuôi cả hai con thì anh yêu cầu chị D phải góp cấp dưỡng nuôi một con (cháu L) là 1.000.000đ/ 1 tháng để anh nuôi cháu L kể từ khi ly hôn xong đến khi cháu L 18 tuổi. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay chị D, anh T đều vắng mặt, đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân, các đương sự trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị D và anh T đều vắng mặt, đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử cho chị D được ly hôn anh T. Về con chung: Xử giao anh Hoàng Văn T nuôi hai con chung là Hoàng Kỳ A, sinh ngày 27/12/2016 và Hoàng Thanh L, sinh ngày 05/4/2018. Chị D có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con chung (cháu Hoàng Thanh L) là 1.000.000đ/ 1 tháng để anh T nuôi cháu L, kể từ tháng 4/2024 đến khi cháu L tròn 18 tuổi. Về tài sản: Chị D và anh T đều không đề nghị giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; chị D phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Trần Thị D khởi kiện xin ly hôn đối với anh Hoàng Văn T, nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung: Chị D xin được ly hôn anh T, đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay chị D, anh T đều vắng mặt, đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Nên HĐXX áp dụng Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D kết hôn với anh Hoàng Văn T ngày 11/11/2016, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không hòa thuận được để xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ với nhau từ tháng 7/2023. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn cả chị D và anh T đều thiết tha xin được ly hôn, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay cả chị D và anh T đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần xử cho chị D được ly hôn anh T. Xét là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống chị D và anh T sinh được hai con chung là Hoàng Kỳ A, sinh ngày 27/12/2016 và Hoàng Thanh L, sinh ngày 05/4/2018. Hiện hai con đang ở cùng anh T, các cháu khoẻ mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn cả chị D và anh T đều xác định để anh T nuôi cả hai con, chị D sẽ có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi cháu L là 1.000.000đ/1 tháng kể từ tháng 4/2024 đến khi cháu L 18 tuổi. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay, cả chị D và anh T đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX xét thấy thoả thuận về việc nuôi con của các bên là hoàn toàn tự nguyện, cháu Kỳ A có nguyện vọng muốn ở với bố, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con trẻ, phù hợp với nguyện vọng của con, tránh sáo trộn về nơi ăn ở, sinh hoạt và học tập, cần giao anh T nuôi cả hai con chung. Chị D có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con chung (cháu Hoàng Thanh L) là 1.000.000đ/ 1 tháng để anh T nuôi cháu L, kể từ tháng 4/2024 đến khi cháu L tròn 18 tuổi. Chị D được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở chị D thực hiện quyền này, xét là phù hợp Điều 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật.
Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án cả chị D và anh T đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay cả chị D và anh T đều vắng mặt và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có sảy ra tranh chấp về tài sản, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 228, 238, 235, 264, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị D được ly hôn anh Hoàng Văn T.
2. Về con chung: Xử giao anh Hoàng Văn T nuôi hai con chung là Hoàng Kỳ A, sinh ngày 27/12/2016 và Hoàng Thanh L, sinh ngày 05/4/2018. Chị D có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con chung (cháu Hoàng Thanh L) là 1.000.000đ/ 1 tháng để anh T nuôi cháu L, kể từ tháng 4/2024 đến khi cháu L tròn 18 tuổi. Chị D được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở chị D thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con chung, Tòa án có thể thụ lý vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của đương sự và quy định của pháp luật.
3. Về tài sản: Không đề nghị Toà án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị D chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007321 ngày 29/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Chị D còn phải nộp 300.000đ tiền án phí.
Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án.
Án xử sơ thẩm công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND huyện Lạng Giang - Chi cục THA huyện Lạng Giang - UBND xã H, Lạng Giang, Bắc Giang - Các đương sự - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Thân Trọng Khôi |