- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ka N và Phạm Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka N và ông Phạm Văn T ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-3-2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Bông và ông K’Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K’Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 438/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ka N (tên khác: Ka’ Nôi), sinh năm 1978. Địa chỉ: Số nhà I, Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1974. Số nhà I, Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 12 năm 2023, trong quá trình xét xử và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Ka N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Văn T kết hôn năm 1998, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau khoảng 01 tháng, kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ đầu năm 2023 vợ chồng đã sống ly thân đến nay, nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau. Tôi yêu cầu ly hôn ông Phạm Văn T. Việc ly hôn tôi đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là K’ Thị Hồng D, sinh ngày 02-02-1999 và K'Văn N1, sinh ngày 04-10-2000. Hiện nay hai con chung đã thành niên, có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi mình. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về con chung.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, nợ riêng: đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Ngoài ra, bà Ka N không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Văn T vắng mặt không rõ lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi và niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông Phạm Văn T đều vắng mặt, nên Tòa án không lấy lời khai của ông Phạm Văn T được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Ka N và ông Phạm Văn T ly hôn. Về con chung và tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà Ka N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Ka N có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Phạm Văn T. Ông Phạm Văn T hiện đang cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Ka N vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh và Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Ka N và ông Phạm Văn T tự nguyện kết hôn năm 1998, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Ka N và ông Phạm Văn T là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Ka N yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Ka N và ông Phạm Văn T có hai con chung là K’ Thị Hồng D, sinh ngày 02-02-1999 và K'Văn N1, sinh ngày 04-10-2000. Hiện nay hai con chung đã thành niên, có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi mình. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản: Tài sản chung; Tài sản nợ chung; Tài sản nợ riêng bà Ka N xác định đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka N và ông Phạm Văn T ly hôn.
2. Về án phí: Bà Ka N phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005505 ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà Ka N đã nộp đủ án phí.
3. Quyền kháng cáo: Bà Ka N và ông Phạm Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Di Linh; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - UBND xã Đinh Trang Hòa; - Chi cục thi hành án huyện Di Linh; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Mỹ Lệ |