- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 15/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02/08/2024 |
HUYỆN CHƯ PRÔNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc _______ V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Công Chự; 2. Ông Nguyễn Ngọc Bình. - Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đức Quang - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên. Trong ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 02/2024 /TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST- HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá H, sinh năm 1983. Địa chỉ nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt. Bị đơn: Chị Lưu Thị Hồng V, sinh năm 1984. Địa chỉ nơi cưu trú: Thôn Đ, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai:(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Bá H trình bày: anh và chị Lưu Thị Hồng V tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B vào ngày 14/01/2009. Bước đầu sống chung hạnh phúc. Mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, không có thương yêu, tôn trọng nhau. Anh H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn. Về con chung: anh và chị Lưu Thị Hồng V có 02 (Hai) con chung tên là: Nguyễn Bá N, sinh ngày 18/10/2008 và Nguyễn Bá G sinh ngày 31/3/2013 và Nguyễn Bá V1, sinh ngày 28/02/2019. Hiện cả ba con do anh đang trực tiếp nuôi dưỡng, ly hôn anh mong muốn được nuôi cả ba con chung và không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Anh Nguyễn Bá H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Bị đơn chị Lưu Thị Hồng V đã được Toà án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị V không có ý kiến phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Bá H, Chị V cũng không đến Tòa án tham gia phên họp kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật. - Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông tham gia phiên tòa – Bà Mai Thị Bích Ngọc k phát biểu ý kiến như sau: - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các đương sự, chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. + Thành phần Hội đồng xét xử: Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đều có mặt đầy đủ theo đúng thành phần, không có sự thay đổi thành phần của Hội đồng xét xử. - Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: + Đối với các đương sự: Nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn: Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các nội dung được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về nội quy phiên tòa. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Bá H và xử ly hôn giữa anh Nguyễn Bá H và chị Lưu Thị Hồng V. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét giao 03 (ba) con chung tên là Nguyễn Bá N, sinh ngày 18/10/2008 và Nguyễn Bá G, sinh ngày 31/3/2013 và Nguyễn Bá V1, sinh ngày 28/02/2019 cho anh Nguyễn Bá H tiếp tục, trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị Lưu Thị Hồng V được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí, nguyên đơn là anh Nguyễn Bá H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Bá H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình giữa anh và chị Lưu Thị Hồng V. Chị Lưu Thị Hồng V có nơi cư trú tại Thôn Đ, xã B, huyện C,
tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, do đó Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, Thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Lưu Thị Hồng V không có yêu cầu phản tố và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho chị V được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị V là đúng quy định của pháp luật. [2] Về quan hệ hôn nhân: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: giữa anh Nguyễn Bá H và chị Lưu Thị Hồng V có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai vào ngày 14/01/2009 là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Bá H Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa anh Nguyễn Bá H và chị Lưu Thị Hồng V có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, hiện tại cả hai vợ chồng đã sống ly thân. Vợ chồng không có ý chí phấn đấu để xây dựng hạnh phúc gia đình, bởi vậy đời sống chung của hai vợ chồng không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Bá H xin ly hôn là có căn cứ, do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Bá H là phù hợp. [3] Về con chung: Trong quá trình chung sống anh Nguyễn Bá H và Chị Lưu Thị Hồng V có 03 (ba) con chung tên là Nguyễn Bá N, sinh ngày 18/10/2008 và Nguyễn Bá G, sinh ngày 31/3/2013 và Nguyễn Bá V1, sinh ngày 28/02/2019, cháu Nguyễn Bá N và Nguyễn Bá G và cháu Nguyễn Bá V1 đều có nguyện vọng được ở với cha là anh Nguyễn Bá H và anh H có nguyện vọng tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, HĐXX xét căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình giao cho anh Nguyễn Bá H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình là phù hợp. Chị Lưu Thị Hồng V có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung việc thay đổi hoặc chấm dứt việc trực tiếp nuôi con chung thực hiện khi có căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt việc nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung được thực hiện cho đến khi có căn cứ làm phát sinh thay đổi, hoặc chấm dứt việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điều 110, 116,118 luật HN và GĐ 2014. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 của UBTV quốc Hội 14 ngày 30/12/2016 UBTV Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án Khoản 5 Điều 27 nghị quyết 326/2016 của U 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, nguyên đơn là anh Nguyễn Bá H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Bá H. 1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử ly hôn giữa anh Nguyễn Bá H và chị Lưu Thị Hồng V. 2. Về nuôi con chung khi ly hôn: Tuyên xử: Giao cả ba con chung tên là Nguyễn Bá N, sinh ngày 18/10/2008 và Nguyễn Bá G, sinh ngày 31/3/2013, Nguyễn Bá V1, sinh ngày 28/02/2019 (như nguyện vọng của con chung) cho anh Nguyễn Bá H được quyền tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Vì lợi ích của con chung việc thay đổi hoặc chấm dứt việc trực tiếp nuôi con chung thực hiện đến khi có căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt việc nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung được thực hiện cho đến khi có căn cứ làm phát sinh thay đổi, hoặc
chấm dứt việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại điều 110, 116,118 luật HN và GĐ 2014. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. 3.Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Bá H không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết. 4. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Anh Nguyễn Bá H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006690 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Anh Nguyễn Bá H đã nộp đủ án phí sơ thẩm. 5. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 02/8/2024 Nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn Chị Lưu Thị Hồng V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND tỉnh Gia Lai -VKSND huyện Chư Prông; - Chi cục THADS huyện Chư Prông; Nguyễn Văn Khương - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân xã Bàu Cạn, nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ án | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) |