vanban.org

Bản án 15/2024/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 12/01/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung Hải. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Nguyên đơn Nguyễn Trung H - Bị đơn Lâm Hải S"
  • Tòa quyết gì? 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/DS-PT
Ngày: 12/01/2024
V/v tranh chấp đòi lại tài
sản là quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Phương.

- Các Thẩm phán:

Ông Phan Minh Dũng.

Ông Thái Văn Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2023/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 78/2023/DS-ST ngày 26 tháng 07 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 208/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung H; cư trú tại: 1 N, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị đơn: Ông Lâm Thanh S; cư trú tại: D N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị N; cư trú tại: 1 N, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Nguyễn Thị T; cư trú tại: C Hồ N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.

3. Bà Nguyễn Thị Kim C; cư trú tại: C T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.

4. Bà Nguyễn Thị Thanh X; cư trú tại: B khu phố B, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội.

5. Bà Nguyễn Thị T1; cư trú tại: 5 C C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp của bà N, bà T, bà C, bà X, bà T1: Ông Nguyễn Trung H là đại diện theo ủy quyền (theo các Giấy ủy quyền được công chứng ngày 30/11/2022 và 08/11/2022).

6. Cụ Trần Thị N1.

7. Bà Nguyễn Thị H1.

8. Ông Lâm Thanh S1.

9. Ông Lâm Thanh H2.

Cùng cư trú tại: D N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.

Đại diện theo ủy quyền của cụ N1, bà H1, ông S1, ông H2: Ông Lâm Thanh S là đại diện theo ủy quyền (theo các Hợp đồng ủy quyền được công chứng ngày 08/11/2022 và 10/11/2022).

- Người kháng cáo: Ông Lâm Thanh S là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Trung H, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Kim C, bà Nguyễn Thị Thanh X, bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Ông Nguyễn H3 (chồng bà Nguyễn Thị N, cha của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Kim C, anh Nguyễn Trung H, chị Nguyễn Thị Thanh X, chị Nguyễn Thị T1) được thừa hưởng của ông bà một mảnh đất thổ cư tại khu V, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Sau năm 1975, ông Nguyễn H3 từ miền B về miền N công tác đã được ông bà giao lại thửa đất và đã đăng ký kê khai sử dụng tại sổ mục kê địa chính trang số 103, quyển số 01/1993 thửa đất 110, tờ bản đồ số 14 diện tích 246m2 (gồm 200m2 đất ở và 46m2 đất vườn). Liền kề phía Tây thửa đất của cha anh là thửa 114, tờ bản đồ số 14, diện tích 74m2 đất ở do ông Lâm Thanh Y đăng ký sử dụng năm 1993. Ông Lâm Thanh Y chết đã giao lại cho con trai là ông Lâm Thanh S sử dụng đến nay. Sau khi ông Nguyễn H3 chết, vợ và các con đều sinh sống ở xa, ông Lâm Thanh S đã tháo dỡ tường rào ranh giới lấn chiếm phần diện tích đất trống ở sau thửa đất của ông Lâm Thanh S thuộc đất sử dụng của gia đình anh diện tích khoảng 30m2 xây dựng công trình nhà vệ sinh trên phần đất này. Được sự ủy quyền của các thành viên trong gia đình, anh yêu cầu ông Lâm Thanh S tháo gỡ công trình phụ, trả lại diện tích đất lấn chiếm cho gia đình ông sử dụng.

Bị đơn ông Lâm Thanh S, đồng thời là đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Trần Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, ông Lâm Thanh H2, ông Lâm Thanh S1 trình bày:

Nguồn gốc thửa đất hiện ông cùng các thành viên trong gia đình gồm: Trần Thị N1 (mẹ), bà Nguyễn Thị H1 (vợ), ông Lâm Thanh H2 (em ruột), ông Lâm Thanh S1 (con) đang sử dụng có số hiệu 114, tờ bản đồ số 14, diện tích 74m2 đất ở do bà ngoại Huỳnh Thị K tạo lập. Năm 1960, bà ngoại bán ngôi nhà tranh và thửa đất này cho cha mẹ ông là Lâm Thanh Y, Lương Thị T2 (vợ trước của cha, đã chết ). Thửa đất có giới cận phía Đông giáp nhà ông Nguyễn T3 (ông nội ông Nguyễn Trung H), phía Tây giáp nhà bà Đặng Thị N2, phía Nam giáp đường tiểu lộ (nay là đường N), phía Bắc giáp đất công. Ranh giới giữa thửa đất gia đình ông và thửa đất gia đình anh Nguyễn Trung H là hàng rào cây táo nhơn. Năm 1992, gia đình ông xây lại ngôi nhà như hiện nay. Năm 1992, gia đình ông Nguyễn Trung H phá hàng rào cây táo nhơn xây tường gạch sát vách nhà phía Bắc gia đình ông chiều ngang khoảng 3,5m chiếm phần đất trống phía sau nhà của gia đình ông. Khoảng 02 năm trước gia đình ông Nguyễn Trung H xây lại nhà đã tháo gỡ tường rào này. Phần đất đang tranh chấp có hình tam giác, diện tích 30,7m2 (theo đo đạc của UBND phường Đ). Hiện nay gia đình ông đang sử dụng, trên đất có nhà vệ sinh. Đây là đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông vì theo giấy bán nhà phía Bắc đất gia đình ông giáp đất công thổ (nay là trụ sở khu vực Đông Phương D) chứ không giáp đất gia đình ông Nguyễn Trung H nên ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 78/2023/DS-ST ngày 26 tháng 07 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H.

Xác định phần đất có diện tích 39,7m2, giới cận: Phía Đông giáp nhà anh Nguyễn Trung H chiều dài 18,02m, phía Tây giáp thửa 109 chiều dài 18,18m, phía Nam giáp tường nhà bếp ông Lâm Thanh S chiều ngang 3,6m, phía Bắc giáp tường rào trụ sở khu vực Đông Phương D 0,23m thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Nguyễn Trung H.

Buộc gia đình ông Lâm Thanh S trả lại diện tích đất 39,7m2 có giới cận nêu trên cho gia đình ông Nguyễn Trung H sử dụng (Theo sơ đồ hiện trạng nhà đất lập ngày 07/3/2023, phần diện tích tranh chấp có ký hiệu C).

Giao gia đình ông Nguyễn Trung H được sở hữu một nhà vệ sinh có diện tích 3,2m2 xây dựng trên phần đất tranh chấp. Buộc ông Nguyễn Trung H phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị nhà vệ sinh cho ông Lâm Thanh S 9.155.656đ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 26 tháng 07 năm 2023, ông Lâm Thanh S kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Ngày 09/8/2023, cụ Trần Thị N1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm số: 78/2023/DS-ST ngày 26 tháng 07 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã An Nhơn.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về Tố tụng: Trong giai đoạn phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Thanh S và của cụ Trần Thị N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Lâm Thanh S và của cụ Trần Thị N1, HĐXX thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung H là có căn cứ, bởi lẽ:

Thứ nhất, đất của gia đình ông Nguyễn Trung H là do ông bà để lại cho cụ Nguyễn H3 (cha của ông Nguyễn Trung H), trước năm 1993 cụ H3 giao cho bà Nguyễn Thị T4 (chị ông H) quản lý, năm 1983 bà T4 đăng ký, kê khai quyền sử dụng, thể hiện trong Sổ mục kê thửa đất có số hiệu 1916, tờ bản đồ số 03, diện tích 160m2, loại đất thổ cư. Năm 1993, cụ H3 nhận lại đất và đăng ký, kê khai lại thành thửa đất số 110, tờ bản đồ số 14, diện tích 246m2. Còn đối với đất của gia đình ông Lâm Thanh S, thì do cha mẹ của ông S là cụ Lâm Thanh Y và người vợ trước của cụ Y là cụ Dương Thị T5 mua lại của cha mẹ cụ T5, năm 1983 cụ Y đang ký, kê khai thể hiện trong Sổ mục kê thửa đất có số hiệu 1908, tờ bản đồ số 03, diện tích 125m2 loại đất thổ cư, nhưng sau đó đến năm 1993 cụ Y kê khai lại thành thửa đất số114, tờ bản đồ số 14, diện tích 74m2 loại đất ở. Như vậy, cụ Y đã xác định thửa đất của gia định cụ chỉ có diện tích 74m2 và cụ đã đăng ký, kê khai để được Nhà nước cấp quyền sử dụng chỉ với diện tích 74m2 mà thôi. Tại phiên tòa phúc thẩm ông S thừa nhận, vào năm 1992 ông có chứng kiến gia đình cụ H3 phá bỏ ranh giới giữa hai nhà,xây dựng hàng rào, trụ, móng lấn sang đất của gia đình ông, nhưng do lúc đó ông còn nhỏ nên không có ý kiến gì, đến năm 2919 gia đình ông phá bỏ hàng rào của gia đình ông H và xây dụng nhà vệ sinh lên phần đất đang tranh chấp.

Thứ hai, theo sơ đồ đo vẽ hiện trạng 02 thửa đất, thì thửa đất số 110, tờ bản đồ số 14 của gia đình ông H hiện nay có diện tích 203,1m2, là thiếu so với diện tích cụ H3 đăng ký, kê khai 60,9m2. Còn đối với thửa đất đất số114, tờ bản đồ số 14 của gia đình ông S thì hiện nay có diện tích 121,6m2 (trong đó có 39,7m2 đang tranh chấp) là thừa so với diện tích cụ Y đăng ký kê khai là 47,6m2, nếu trừ đi 39,7m2 đất đang tranh chấp thì đất của gia đình ông S thừa so với diện tích cụ Y đăng ký, kê khai là 7,9m2 và so với diện tích ghi trong giấy mua nhà tranh và nhượng cư đất ngày 02/5/1960, thì đất của gia đình ông S vẫn còn thừa 0,9m2. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định 39,7m2 đất đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Nguyễn Trung H.

Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của cụ Trần Thị N1 và của ông Lâm Thanh S là không có căn cứ nên không được HĐXX chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì ông Lâm Thanh S phải chịu 300.000 đồng. Cụ Trần Thị N1 được miễn.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm cũng như về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của cụ Trần Thị N1 và của ông Lâm Thanh S. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2022/DS-ST ngày 260/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung H.

Xác định phần đất có diện tích 39,7m2, giới cận: Phía Đông giáp nhà anh Nguyễn Trung H chiều dài 18,02m, phía Tây giáp thửa 109 chiều dài 18,18m, phía Nam giáp tường nhà bếp ông Lâm Thanh S chiều ngang 3,6m, phía Bắc giáp tường rào trụ sở khu vực Đông Phương D 0,23m thuộc quyền sử dụng của gia đình anh Nguyễn Trung H.

2. Buộc gia đình ông Lâm Thanh S trả lại diện tích đất 39,7m2 có giới cận nêu trên cho gia đình ông Nguyễn Trung H sử dụng (Theo sơ đồ hiện trạng nhà đất lập ngày 07/3/2023, phần diện tích tranh chấp có ký hiệu C).

3. Giao gia đình ông Nguyễn Trung H được sở hữu một nhà vệ sinh có diện tích 3,2m2 xây dựng trên phần đất tranh chấp. Buộc ông Nguyễn Trung H phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị nhà vệ sinh cho ông Lâm Thanh S 9.155.656đ.

4. Về án phí, chi phí tố tụng khác:

4.1 Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Lâm Thanh S phải chịu 300.000 đồng.

- Ông Nguyễn Trung H phải chịu 457.780 đồng, nhưng được khấu trừ vào 3.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu số: 0005403 ngày 13/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Trung H 2.542.218 đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lâm Thanh S phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo Biên lai thu số: 0001877 ngày 27/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình định.

4.1 Chi phí tố tụng khác: Ông Lâm Thanh S phải có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Trung H 4.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

5. Quyền, nghĩa vụ thi hành án:

5.1 Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

5.2 Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ