vanban.org

Bản án 15/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị K 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023. Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 15/2023/HSST
Ngày 07 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cà Văn Pống .

2. Ông Nguyễn Mạnh Cường.

Thư ký Toà án: Bà Cầm Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Văn Máy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2023/TLST - HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo.

1. Họ và tên: Hoàng Thị K tên gọi khác: Không; sinh năm 1987; Tại xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La: Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Dân tộc: Kháng; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Đảng phái đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn N (đã chết) và bà Lò Thị P, bị cáo có chồng là Hoàng Văn T (Hiện đang đi chấp hành án phạt tù) và 05 con, con lớn nhất sinh năm 2005 và con nhỏ nhất sinh năm 2016; Đều cư trú tại: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La.

Tiền án: Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/9/2023 Hoàng Thị K có hành vi tàng trữ trái phép 0,015 gam ma túy (loại Heroine) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời thì bị bắt quả tang. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày Hoàng Thị K đưa số ma túy trên cho Hoàng Thị T, sinh ngày 17/02/2009 (là con gái ruột của K) để Thân mang đi bán cho một người đàn ông tại khu vực đầu bản L, xã C với số tiền là 100.000đ thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy.

Mở rộng điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Thị K và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Thị K, Công an huyện Qkhông thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì.

Cùng ngày Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành xét nghiệm ma túy và test thử thai đối với Hoàng Thị K, kết quả: Hoàng Thị K âm tính với chất ma túy và không có thai.

Ngày 03/9/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện Q phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La và Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tiến hành bóc mở, niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng đối với chất cục, bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Hoàng Thị T; Kết quả, chất cục, bột màu trắng có khối lượng là 0,015 gam trích lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1.

Tại bản kết luận giám định số: 2143/KL – KTHS ngày 06/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroine; khối lượng ma túy thu giữ là 0,015 gam”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Sáng ngày 31/8/2023 Hoàng Thị K đi thăm chồng là Hoàng Văn T đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Q, sau khi thăm chồng xong, khoảng 10 giờ cùng ngày K bắt xe buýt từ trung tâm huyện Q về hướng thành phố Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến xã C, huyện Q, K xuống xe và đi bộ theo hướng thành phố Sơn La, trên đường đi K gặp một người đàn ông (K không biết tên, tuổi, địa chỉ) qua trao đổi K mua được 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng với số tiền 50.000đ, sau khi mua được ma túy K bắt xe buýt quay về nhà và cất giấu ma túy ở loa âm thanh của gia đình. Đến sáng ngày 02/9/2023 K trích lấy một phần nhỏ ma túy ra pha nước lọc và sử dụng bằng hình thức uống, số còn lại K gói lại để lại chỗ cũ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi K đang tắm trong nhà tắm gần cầu thang của gia đình thì có một người đàn ông không rõ danh tính đến hỏi mua 100.000đ với K, K đồng ý, do đang tắm nên K nói với người đàn ông đến đầu bản L đợi và đưa ma túy cho sau. Sau khi tắm xong, K lấy gói ma túy cất giấu ở loa âm thanh gói thêm một lớp giấy màu trắng (loại giấy ăn) vào và đưa cho con gái là Hoàng Thị T, sinh năm 2009 và dặn T đưa cho người đàn ông ở đầu bản L và nhận tiền đem về cho K, T nhận gói ma túy từ K và đi bộ ra đầu bản L, xã C, trên đường đi thì bị Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 59/CT - VKS - QN ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Hoàng Thị K về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hoàng Thị K về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Thị K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy: Về hình phạt chính, đề nghị HĐXX áp dụng điểm e khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Thị K 07 (Bảy) năm đến 07 năm 06 tháng (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023.

Miễn hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi: 01 mảnh giấy màu trắng + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098860 của Công an tỉnh Sơn La.

Bị cáo Hoàng Thị K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị K khai nhận, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La được Kiểm sát viên công bố tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng bị cáo đã nhận. Do hành vi của bị cáo đã rõ, nên bị cáo Hoàng Thị K không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên tại phiên tòa.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu có trong hồ sơ, ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản, lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Thị K cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 0,015 gam”. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.

Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 02/9/2023 Hoàng Thị K có hành vi đưa cho con gái ruột là Hoàng Thị T 0,015 gam ma túy để đi giao cho người đàn ông, lấy tiền về cho K thì bị Công an huyện Q, tỉnh Sơn La bắt quả tang đối với Hoàng Thị T, sinh ngày 17/02/2009; Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, phá hoại nhân cách con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, vắt kiệt nhân lực, tài chính gia đình và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua chất ma túy là Heroine để sử dụng và bán kiếm lời là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo sử dụng Hoàng Thị Thân (con gái ruột của bị cáo) là người chưa thành niên mang Heroin đi bán cho một người đàn ông, rồi lấy tiền về cho bị cáo là những tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Nên hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự, có quy định khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tù; Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị K khai nhận việc bị truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị K thành khẩn khai báo, bị cáo có bố là Hoàng Văn N (Bố đẻ) là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Hoàng Thị K khai là mua với 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực thuộc xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La vào ngày 31/8/2023 nhưng bị cáo Hoàng Thị K không biết họ tên và địa chỉ cụ thể. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xử lý đối với người đã bán ma túy cho bị cáo. Buộc bị cáo Hoàng Thị K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số 0,015 gam Heroine thu giữ nêu trên.

Đối với Hoàng Thị T; Sinh ngày 17/02/2009; Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La (Là con gái ruột của bị cáo) đã có hành vi nhận 01 gói ma túy có khối lượng 0,015 gam từ mẹ là Hoàng Thị K để đi giao cho người khác sau đó đem tiền về cho K, có đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi thực hiện hành vi vi phạm, Hoàng Thị T mới 14 tuổi 06 tháng 16 ngày, nên T chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự. Do vậy hành vi của Hoàng Thị T chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La không đặt vấn đề xem xét xử lý đối với Hoàng Thị T là có căn cứ chấp nhận.

Vật chứng vụ án: - 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi: 01 mảnh giấy màu trắng + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098860 của Công an tỉnh Sơn La là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Hoàng Thị K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Thị K 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2023.

Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Q được niêm phong dán kín; Mặt trước phong bì có ghi; 01 mảnh giấy màu trắng + 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau tại mép dán giáp lai phong bì được dán đè giấy niêm phong số 098860 của Công an tỉnh Sơn La.

Theo biên bản bàn giao vật chứng số 17/2024 ngày 09/11/2023 giữa Công an huyện Q, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Hoàng Thị K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

BÞ c¸o Hoàng Thị K có quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n sơ thẩm./ N¬i nhËn:

Cỡ chữ