vanban.org

Bản án 15/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội ‘’Giữ người trái pháp luật’’.

Xử phạt: Lê Văn T 04 (bốn) năm tù . Tổng hợp với 15 tháng tù tại bản án số 96/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 29/11/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - Giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội ‘’Giữ người trái pháp luật’’.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HSST
Ngày: 20/4/2023

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phầnHội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng

Bà Lê Hoàn Sinh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn T Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Quý Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TL-HSST ngày 17 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã Đông Hòa, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 29/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội ‘’Bắt, giữ người trái pháp luật’’.

Bị cáo hiện đang chấp hành án tại trại giam Thanh Lâm thuộc Cục C10 - Bộ Công an. Theo bản án hình sự sơ thẩm số 96/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa (bắt ngày 29/11/2022).

+ Bị hại:

- Chị Lê Thị N, sinh ngày 20/3/2006 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Bản Ph xã Cắm Muộn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Lê Thị N: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hoá. (vắng mặt)

- Chị Lô Thị H, sinh ngày 16/7/2006 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Bản C, xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ an.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Lô Thị H: Bà Lê Thu Hằng - Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hoá. (vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Quốc T, sinh năm 1998

Nơi cư trú: Thôn V, xã Đông Văn, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

+ Người làm chứng:

- Lữ Thị T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.

- Lữ Thị Tr, sinh năm 2004 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm Hợp T, Châu Thôn, xã Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc T được Lê Văn T thuê đưa, đón nhân viên phục vụ các quán Karaoke trên địa bàn huyện Đông Sơn với mức lương 5.000.000 đồng/1tháng. Sau đó T được T chỉ đạo đăng tuyển nhân viên phục vụ quán hát Karaoke trên mạng xã hội Facebook. Đến ngày 12/5/2020, Trần Quốc T làm quen rồi thoả thuận với chị Lô Thị H, sinh ngày 16/7/2006 ở Bản C, xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và Lô Thị N, sinh ngày 20/3/2006 ở Bản Ph, xã Cắm Muội, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An đến làm nhân viên quán hát Karaoke do T và T quản lý với tiền công là 130.000 đồng/1giờ. Sau khi thoả thuận xong, T vào đón chị H và chị N tại thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An về địa bàn xã Đông Yên, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá để làm việc. Số tiền mà T và T thu được của các quán Karaoke khoảng từ 150.000 đồng đến 180.000 đồng/1giờ do T trực tiếp thu tiền từ các chủ quán và về giao lại cho T, đồng thời T chịu trách nhiệm trả công cho các nhân viên theo như thoả thuận. Để có nơi ăn ở và sinh hoạt cho nhân viên, Lê Văn T trực tiếp thuê 01 ngôi nhà 3 tầng ở xã Đông Yên, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngoài 02 nhân viên Lô Thị H và Lô Thị N, tính đến ngày 15/5/2020 tại phòng trọ do T thuê khoảng 12 nhân viên nữ.

Khoảng 15 giờ ngày 15/5/2020, chị H và chị N xin Lê Văn T về nhà có việc riêng nhưng T không cho về và nói với T ‘’làm luật bọn này đi’’ (ý nói với T là đánh và đe doạ chị H và chị N, không cho chị H về). T hiểu ý, liền nói với chị H ‘’H vào đây anh bảo’’, sau đó T đưa chị H đi vào phòng bếp của nhà trọ. Tại đây, Trần Quốc T dùng tay phải tát 03 cái vào gáy cổ của chị H, vừa tát T vừa hỏi ‘’có về nữa không’’. Chị H bị đánh đau và sợ nên trả lời ‘’không’’, thì T không đánh chị H nữa và cùng chị H đi ra phòng khách của nhà trọ. T nói với chị N ‘’N vào đây anh bảo’’, sau đó T đưa chị N vào phòng bếp của nhà trọ rồi dùng tay phải tát 03 cái vào gáy cổ của chị N, vừa tát, T vừa hỏi‘’có về nữa không’’. Lúc đầu chị N trả lời ‘’có’’. Sau đó, sợ bị đánh tiếp nên chị N không dám nói gì nữa nên T và chị N cùng đi ra ngoài phòng khách của nhà trọ. Khi ra đến nơi, T nói với chị H và chị N ‘’vào đây nói chuyện’’. Nói xong, T đi vào phòng bếp của nhà trọ, còn chị H và chị Nết sợ bị T đánh tiếp nên không dám đi theo T mà đi lên phòng trọ ở tầng 2 nằm, còn T và T ở dưới tầng 1.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 16/5/2020, chị Lữ Thị Tr là một trong những nhân viên phục vụ quán hát Karake đang ở phòng trọ của T và T đã nhắn tin và gọi điện qua Messenger cho bác ruột là bà Lữ Thị T ở xã Châu Thôn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An để cầu cứu giúp đỡ về việc đang bị giữ tại phòng trọ của T và T. Sau đó, chị T đã báo cáo Công an tỉnh Thanh Hoá T hành giải cứu chị H và chị N và một số nhân viên tại phòng trọ.

Ngày 16/5/2020, Trần Quốc T đến Cơ quan Công an tỉnh Thanh Hoá để đầu thú. Vụ án được đưa ra xét xử đối với Trần Quốc T ngày 25/11/2020.

Đối với Lê Văn T, sau khi phạm tội cùng với Trần Quốc T, T đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 29/11/2022 T bị cơ quan CSĐT Công an huyện Triệu Sơn bắt theo lệnh truy nã về tội ‘’Giữ người trái pháp luật’’. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam Thanh Lâm thuộc Cục C10 - Bộ Công an. Theo bản án hình sự sơ thẩm số 96/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa .

Quá trình điều tra bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chúng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 10/CTr-KSĐT ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn T về tội ‘’ Giữ người trái pháp luật’’ theo điểm đ, e khoản 2 Điều 157 - BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử : Áp dụng : Điểm đ, e khoản 2 Điều 157 ; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 38 ; Điều 56 - BLHS. Xử phạt : Bị cáo Lê Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù và tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 96/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đông Sơn, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Văn T đã khai nhận: Vào hồi 15 giờ ngày 15/5/2020, Trần Quốc T và Lê Văn T đã có hành vi đánh và đe doạ chị Lô Thị H ở Bản C, xã Quang Phong, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và chị Lô Thị N ở Bản Ph, xã Cắm Muội, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An là nhân viên do T và T thuê để phục vụ quán hát Karake, mục đích giữ chị H và chị N không được về nhà mà phải ở lại để phục vụ các quán hát Karake do T và T quản lý.

Vai trò của bị cáo : Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Lê Văn T là người trực tiếp thuê Trần Quốc T tuyển chọn và đưa đón nhân viên quán hát, đồng thời thu tiền ở các quán hát đưa lại cho T để T trả tiền cho nhân viên, việc ăn, ở, sinh hoạt đều do T thực hiện nên giữ vai trò chính trong vụ án. Trần Quốc T là người thực hành nên giữ vai trò thứ yếu trong vụ án.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án ; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khảng định: Hành vi của Lê Văn T đã phạm tội ‘’Giữ người trái pháp luật’’theo điểm đ, e khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm : Hành vi của Lê Văn T là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù bị cáo không có thẩm quyền để giữ người nhưng lại giữ người trái phép là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu ngày 29/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội ‘’Bắt, giữ người trái pháp luật’’. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Nhân thân: Ngày 29/12/2022, Bị cáo Lê Văn T bị Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội ‘’Bắt, giữ người trái pháp luật’’.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội Lê Văn T đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 29/11/2022 T bị cơ quan CSĐT Công an huyện Triệu Sơn bắt theo lệnh truy nã về tội‘’ Giữ người trái pháp luật’’. Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

Ngày 29/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù về tội ‘’Bắt, giữ người trái pháp luật’’, nên sau khi lên mức án của tội đang xét xử để tổng hợp hình phạt của hai bản án và buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điểm đ, e khoản 2 Điều 157 ; điểm s, khoản 1 Điều 51 ; Điều 38 ; Điều 56 - BLHS. Khoản 2 Điều 135 BLTTHS ; Điều 6 ; điểm a khoản 1 Điều 23 ; khoản I mục 1 Danh mục án phí, lệ phí (ban hành kèm theo nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016) của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội ‘’Giữ người trái pháp luật’’.

- Xử phạt: Lê Văn T 04 (bốn) năm tù . Tổng hợp với 15 tháng tù tại bản án số 96/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 29/11/2022.

- Về án phí: Buộc Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Đông Sơn;

- Cơ quan CSĐT Công an huyện Đông Sơn;

(đã ký)

- Chi cục THADS huyện Đông Sơn;

- Trại tạm giam;

Trịnh Thị Hà

- Bị cáo;

- Bị hại;

- Người có QL&NVLQ;

- Người BVQ&LIHP của bị hại;

- Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu TAND huyện Đông Sơn.

Cỡ chữ