vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

Tòa án Khu vực 1 - QK9, án Quân khu 9 Tuyên án 09/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn Thống và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN QUÂN SỰ
KHU VỰC QUÂN KHU 9

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày 09-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 9

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 2// Nguyễn Văn Nhớ .

Các Hội thẩm quân nhân:

1// Pha ̣m Huy Xuân;

2// Mai Thành Trung.

- Thư ký phiên tòa: 4/ Nguyễn Thị Thuý Loan, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9.

- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 2 Bộ đội Biên phòng tham gia phiên tòa: 1// Ngô Xuân Khang, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Cao Văn Th, sinh ngày 15/8/1979 tại Kiên Giang; nơi cư trú: KP 8, phường AH, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Ngư dân; trinh đô ̣̀

văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con (con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính; hiê ̣n đang bi ̣ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Văn A, sinh ngày 29/11/1972 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Số 2/4A, đườ ng ĐDT, phường RS, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trinh đô ̣̀

văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2; có vợ là Lê Thị R và 02 con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính; hiê ̣n đang bi ̣ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/1996 tại Kiên Giang; nơi cư trú: ấp VQ, xã VHP, huyện CT, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Ngư dân; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị H3; có vợ là Ngô Binh H4 và 01 con sinh năm 2020;̀ tiền án: có 01 tiền án (ngày 15/02/2023 bị Toà án quân sự Khu vực Quân khu 9 tuyên phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”); tiền sự: không; nhân thân: không bị xử phạt vi phạm hành chính; hiện đang chấp hành án pha ̣t tù ta ̣i Tra ̣i ta ̣m giam H85 - Quân khu 9 từ ngày 29/8/2023; có mặt.

4. Huỳnh Văn D, sinh ngày 10/4/1978 tại Vĩnh Long; nơi cư trú: Số 48, đườ ng TTĐ, phường RS, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Ngư dân; trinh độ̀ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hữu H5 và bà Đặng Thị B; có vợ là Lâm Ái L1 và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính; hiê ̣n đang bi ̣ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

5. Lưu Hùng C1, tên go ̣i khác: U, sinh ngày 09/9/1973 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Số 115, đườ ng ĐDT, phường RS, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: 1// QNCN, Nhân viên vận động quần chúng, Đồn Biên phòng XN, Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang; trình đô ̣ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Hưng P (đã chết) và bà Dương Thị Tr (đã chết); có vợ là Quách Thị A1 và 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính hay xử lý kỷ luâ ̣t; hiê ̣n đang bi ̣ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

6. Cao Văn T1, sinh ngày 01/01/1981 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Số P35-30, đườ ng TBĐ, phường AH, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); chưa có vợ, có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính; hiê ̣n đang bi ̣ áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Những người làm chứng:

1. Trần Quốc H6; có mă ̣t.

2. Đào Văn S1; có mă ̣t.

3. Lê Thi ̣ R; có mă ̣t.

4. Lâm Á i L1; có mă ̣t.

5. Lê Văn T2; vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 02/12/2022, Cao Văn Th rủ Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T đến quán hủ tiếu của Cao Văn T1 (em ruô ̣t Th) để đánh bài ăn thua bằng tiền. Th mua 10 bô ̣ tú lơ khơ (bài tây loa ̣i 52 lá) vớ i số tiền 50.000 đồng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Th, D, A, T đánh bài binh xâ ̣p xám được thua bằng tiền. Sau đó, có Đào Văn S1 và Trần Quốc H6 đến xem. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Lưu Hùng C1 đến và góp 1.000.000 đồng để chơi cùng 1 tu ̣ vớ i D.

Những ngườ i chơi quy đi ̣nh hinh thừ

́ c binh xâ ̣p xám như sau: Bô ̣ bài tây 52 lá chia thành 04 phần bằng nhau (go ̣i là tu ̣), mỗi tu ̣ 13 lá bài được xếp thành 03 chi, chi thứ nhất 05 lá bài, chi thứ hai 05 lá bài, chi thứ ba 03 lá bài và phải xếp sao cho chi mô ̣t lớ n hơn chi hai và chi hai lớ n hơn chi ba, nếu không se tĩ nh lá

̀ “binh lủng” và thua cả ván bài. Mỗi ngườ i làm cái 02 ván rồi chuyển cho ngườ i kế tiếp. Trong mô ̣t ván, mỗi chi được sắp xếp từ nhỏ đến lớ n theo tinh chấ

́t như: mâ ̣u thầu, đôi, thú, xám, sảnh, thùng, cù lũ, tứ quý, thùng phá sảnh; thứ tự các lá bài tăng dần từ 2 đến A (Á t). Các ngườ i chơi so sánh bài vớ i nhà cái, ngườ i nào thắng 02 chi trở lên là thắng ván bài. Mỗi ván bài thắng thua phải trả số tiền 200.000 đồng/ngườ i và thanh toán luôn cho nhau trong từ ng ván bài. Trong mô ̣t ván, nếu ngườ i chơi có tứ quý hoă ̣c thùng phá sảnh hoă ̣c 06 đôi hoă ̣c 03 sảnh hoă ̣c 03 thùng được go ̣i là “binh” và thắng ván bài mà không cần so sánh các chi. Nếu nhà cái được “binh” thi thằ ́ng tất cả những nhà còn la ̣i, được go ̣i là “bai”. Ngoã

̀i ra, tùy từ ng ván, ngườ i chơi có thể thỏa thuâ ̣n chơi vớ i nhau bằng cách so sánh số lượng con Á t go ̣i là “đá Á t”, cứ hơn 01 con Á t là thắng 100.000 đồng. Cứ 10 ván bài thi thay mô ̣̀

t bô ̣ bài mớ i. Trong ván đầu tiên của bô ̣ bài mớ i, nếu ai có con “3 bich” thí

phà

̉i để 50.000 đồng vào giỏ đựng bài go ̣i là tiền xâu để gử i cho chủ nhà là T1.

Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang đánh bạc với nhau thì bị Công an phườ ng AH bắt quả tang.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phườ ng AH, thành phố RG, tinh Kiên Giang lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 02/12/2022 xả

́c đi ̣nh:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 02/12/2022, Công an phườ ng AH, thành phố RG, tinh Kiên Giang bắt quả tang cả

́c đối tượng có hành vi đánh bạc với hình thức binh xâ ̣p xám 13 lá thắng thua bằng tiền ta ̣i căn nhà Số P35-30, đườ ng TBĐ, phườ ng AH, thành phố RG, tinh Kiên Giang do Cao Văn T1 lả

̀m chủ nhà tổ chứ c cho các đối tượng đánh ba ̣c và lấy tiền xâu. Tang vật thu được gồ m: thu giữ trực tiếp trên chiếu ba ̣c số tiền 8.700.000 đồng và 300.000 đồng để trong giỏ đựng bài, 01 tấm đê ̣m, 06 bô ̣ bài tây loa ̣i 52 lá đa qua sữ

̉ du ̣ng; 01 bô ̣ bài tây loa ̣i 52 lá đang chơi; 03 bô ̣ bài tây loa ̣i 52 lá chưa qua sử du ̣ng; thu giữ trên ngườ i của C1 460.000 đồng, của A 8.600.000 đồng, của D 4.000.000 đồng, của H6 9.400.000 đồng, của Th 80.000 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận về diễn biến hành vi phạm tội, thờ i gian, đi ̣a điểm pha ̣m tô ̣i và số tiền sử dụng vào việc đánh bạc như Cáo trạng đã truy tố cụ thể như sau: Bi ̣ cáo Th mang theo số tiền 1.130.000 đồng, sử du ̣ng 50.000 đồng mua 10 bô ̣ bài, sử du ̣ng 1.000.000 đồng để đánh ba ̣c và bi ̣ thu giữ 80.000 đồng trên ngườ i; bi ̣ cáo A mang theo số tiền hơn 11.000.000 đồng và chi ̉ sử du ̣ng 2.500.000 đồng để đánh ba ̣c, còn la ̣i sử du ̣ng để kinh doanh hàng ngày của gia đinh; bi ̣̀

cáo D mang theo số tiền 6.000.000 đồng và chi sử ̉ du ̣ng 1.500.000 đồng để đánh ba ̣c, còn la ̣i dùng để mua du ̣ng cu ̣ làm chuồng gà và nhà kho; bi ̣ cáo T mang theo số tiền 1.000.000 đồng và sử du ̣ng 1.000.000 đồng để đánh ba ̣c; bi ̣ cáo C1 mang theo số tiền 1.460.000 đồng và sử du ̣ng 1.000.000 đồng để đánh ba ̣c, còn la ̣i 460.000 đồng dùng để chi tiêu cá nhân. Các bi ̣ cáo khai tổng số tiền các bi ̣ cáo sử du ̣ng để đánh ba ̣c it hơn tổng số tiền bi ̣ bắt quả tang thu giữ là do các bi ̣

́ cáo không nhớ chinh xá

́c số tiền của mỗi ngườ i dùng để đánh ba ̣c là bao nhiêu. Số tiền 9.000.000 đồng mà Công an thu giữ tại chiếu bạc khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang là của các bị cáo đang dùng vào việc đánh bạc. Cao Văn T1 khai nhâ ̣n đa đỗ ̀ng ý cho các bi ̣ cáo khác sử du ̣ng đi ̣a điểm ta ̣i nhà của minh để̀ đánh ba ̣c và lấy tiền xâu. Tấm vải đê ̣m và giỏ nhựa là do Cao Văn Th tự ý lấy trong nhà của T1 để phu ̣c vu ̣ cho viê ̣c đánh ba ̣c nên yêu cầu HĐXX trả la ̣i cho bi ̣ cáo.

Những ngườ i làm chứ ng Đào Văn S1 và Trần Quốc H6 có lờ i khai ta ̣i phiên tòa như sau: Đào Văn S1 khai vào trưa ngày 02/12/2022, sau khi nhâ ̣u và uống cà phê vớ i tôi và mô ̣t số ngườ i khác, Th go ̣i điê ̣n thoa ̣i rủ D, A, T đến nhà T1 để đánh bài thắng thua bằng tiền. Tôi ngồi phia sau Th để xem, sau đó

́ thi H6 đến ngồ

̀ i phia sau A cú

̀ng xem đánh bài và không thấy H6 chỉ bài cho ai. Mô ̣t lúc sau thi ̀ C1 đến và vào đánh bài cùng mô ̣t tu ̣ vớ i D. Trần Quốc H6 khai khoảng hơn 13 giờ ngày 02/12/2022, H6 đến nhà T1 ăn hủ tiếu thi thầ ́y có A, C1, T, D, Th đánh bài ở phia trong phó

̀ng bếp nhà T1 nên vào xem và ngồi phia sau A. Tôi thấ

́y A đánh bài trong tinh tra ̣̀

ng ngà ngà say, gâ ̣t gù nên thỉnh thoảng tôi có dùng chân khều để A tinh tả

́o, nhin kỳ

để xếp bã

̀i khỏi bi ̣ “binh lủng”. Ngoài ra, tôi không có lờ i nói hay hành đô ̣ng gi khà

́c tác đô ̣ng đến viê ̣c chơi bài của A và những ngườ i khác. Tôi không có bất kỳ lợi ich gí

trong vu ̣̀

đánh bài này.

Những ngườ i làm chứ ng Lê Thi ̣ R, Lâm Á i L1, Lê Văn T2 có lờ i khai ta ̣i cơ quan điều tra và ta ̣i phiên tòa như sau: Bà Lê Thi ̣ R khai bà là vợ của Nguyễn Văn A, trưa ngày 02/12/2022, bà có đưa cho A cất giữ số tiền hơn 11.000.000 đồng để sử du ̣ng vào mu ̣c đich kinh doanh há

̀ng ngày và không biết A đã sử du ̣ng bao nhiêu tiền để đánh ba ̣c. Chi ̣ Lâm Á i L1 khai chi ̣ là vợ của Huỳnh Văn D và vào ngày 02/12/2022, chi ̣ có đưa cho D số tiền 6.000.000 đồng để mua vâ ̣t liê ̣u làm chuồng gà, nhà kho và không biết D đa sữ ̉ du ̣ng bao nhiêu tiền để đánh ba ̣c. Ông Lê Văn T2 khai ông là bố vợ của Trần Quốc H6 và vào sáng ngày 02/12/2022, ông có đưa cho H6 số tiền 9.400.000 đồng để mua keo quét xuồng câu của ông.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-KV2 ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 2 - Bộ đội Biên phòng đã truy tố Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T, Lưu Hùng C1 và Cao Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Luâ ̣n tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả vụ án, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:

Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T, Lưu Hùng C1 và Cao Văn T1 pha ̣m tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các khoản 1, 3 Điều 17; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 50; Điều 58 BLHS xử phạt các bị cáo Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, mỗi bi ̣ cáo từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng; xử pha ̣t bi ̣ cáo Cao Văn T1 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các khoản 1, 3 Điều 17; các điểm i, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 35; Điều 50; Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Lưu Hùng C1 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các khoản 1, 3 Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 58 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Á p du ̣ng khoản 1 Điều 56 BLHS, tổng hợp hinh pha ̣t của bản án

̀ này vớ i hinh pha ̣̀

t 02 năm 02 tháng tù về tô ̣i “Chống ngườ i thi hành công vu ̣”, buô ̣c bi ̣ cáo chấp hành hinh pha ̣̀

t chung là 02 năm 08 tháng đến 02 năm 11 tháng tù. Thờ i gian đa chẫ

́p hành hình pha ̣t của bản án trướ c được trừ vào thờ i gian chấp hành hinh pha ̣̀

t chung.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, ghi nhâ ̣n Cơ quan tố tụng đa trã ̉ la ̣i các đồ vâ ̣t, tài sản cho chủ sở hữu. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.000.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 giỏ nhựa màu xám, kich thướ

́ c (19 x 27 x 15) cm; 10 bộ bài tây loa ̣i 52 lá bài (03 bộ chưa qua sử dụng, 07 bộ đã qua sử dụng); 01 tấm vải đê ̣m dùng làm chiếu ba ̣c, kich thướ

́ c (202 x 152) cm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hinh sự̀

Khu vực 3 - Bộ đội Biên phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát quân sự Khu vực 2 - Bộ đội Biên phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo tra ̣ng đa nêu. Lời khai nhận tộ̃

i của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Theo đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 02/12/2022, khi Cao Văn Th go ̣i điê ̣n thoa ̣i khở i xướ ng viê ̣c đánh ba ̣c, các bi ̣ cáo Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T đa đỗ ̀ng ý; sau đó Lưu Hùng C1 đến và cùng thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với hình thức binh xâ ̣p xám ở quán hủ tiếu của Cao Văn T1 ta ̣i Số P35-30, đườ ng TBĐ, phườ ng AH, thành phố RG, tinh Kiên Giang. Cao Văn T1 không trự̉

c tiếp tham gia đánh ba ̣c nhưng đa đỗ ̀ng ý cho các bi ̣ cáo khác mượn đi ̣a điểm để đánh ba ̣c và lấy tiền xâu. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, thì bị Công an phườ ng AH phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.000.000 đồng. Các bi ̣ cáo đều trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiê ̣m hinh sự, do vậy, hành vi của các bị cáo Cao

̀

Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T, Lưu Hùng C1 và Cao Văn T1 đa cẫ ́u thành tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 BLHS. Do đó, Cáo tra ̣ng của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 2 - Bộ đội Biên phòng truy tố các bi ̣ cáo là đúng ngườ i, đúng tô ̣i, đúng pháp luâ ̣t.

Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi đó trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi và mục đích nhằm tước đoạt tiền của nhau nên vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện và cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

HĐXX xác định đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc không có sự bàn bạc, phân công chuẩn bị từ trước, xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng: Bị cáo Cao Văn Th là người khởi xướng việc đánh bạc, chủ động mua 10 bộ bài tú lơ khơ và trực tiếp tham gia đánh bạc. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án. Đối với các bị cáo Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T, sau khi nghe bị cáo Th khởi xướng việc đánh bạc đều đồng ý và tham gia đánh bạc từ đầu đến khi bị bắt nên các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau sau bị cáo Cao Văn Th. Bi ̣ cáo Lưu Hùng C1 đến sau và cùng tham gia đánh ba ̣c cho đến khi bi ̣ bắt nên phải chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự sau các bi ̣ cáo A, D, T. Bi ̣ cáo Cao Văn T1 không tham gia đánh ba ̣c nhưng đa cõ ́ hành vi giúp sứ c trong viê ̣c cho mượn đi ̣a điểm để các bi ̣ cáo khác đánh ba ̣c và lấy tiền xâu nên phải chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự vớ i vai trò thấp nhất.

Về nhân thân, tình tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Lưu Hùng C1 và Cao Văn T1 có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay xử lý kỷ luật. Riêng bi ̣ cáo Nguyễn Văn T có 01 tiền án. Cả sáu bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiê ̣m hình sự (TNHS); về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Các bị cáo Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Lưu Hùng C1 và Cao Văn T1 phạm tội lần đầu, là tội ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, sáu bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Lưu Hùng C1 trong quá trình công tác được tặng thưởng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhi, Huân chương Quân kỳ

̀ quyết thắng và nhiều bằng khen, giấy khen khác nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác” theo điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xem xét khách quan, toàn diện vụ án, HĐXX xét thấy: Các bị cáo Th, D, A, C1, T1 đều có nhân thân tốt; cả 05 bị cáo đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 35 BLHS đối với 05 bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật. Các bị cáo Th, D, A, C1, T1 bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Bi ̣ cáo Nguyễn Văn T có 01 tiền án, nhân thân không tốt và chỉ có 01 tinh tiết giảm nhe ̣ TNHS quy

̀ định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, nên cần áp du ̣ng hình pha ̣t tù có thờ i ha ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 38 BLHS mớ i đủ sứ c răn đe, cải ta ̣o, giáo du ̣c bi ̣ cáo. Vi vâ ̣̀ y, ý kiến đề nghi ̣ của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhâ ̣n. Tuy nhiên, HĐXX thấy rằng cần áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo Nguyễn Văn T

̀ mớ i đủ sứ c răn đe, giáo du ̣c bi ̣ cáo.

Đối vớ i hành vi của Trần Quốc H6 dùng chân khều khều Nguyễn Văn A trong lúc A đang đánh bài, HĐXX đa thẫ ̉m tra làm rõ ta ̣i phiên tòa và xác đi ̣nh được hành vi này là nhằm mu ̣c đich giú

́p A tinh tả

́o, nhin kỳ

bã ̀i do H6 thấy A say rượu ngồi gâ ̣t gù. H6 không chi bả ̀i và không hưở ng lợi ich gí

từ ̀ viê ̣c đánh bài của A, cho nên hành vi của H6 không phải là đồng pha ̣m giúp sứ c của A về tô ̣i đánh ba ̣c.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 8.700.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và 300.000 đồng tiền xâu thu tại chiếu bạc, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội. HĐXX căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 10 bộ bài tú lơ khơ loa ̣i 52 lá bài là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. HĐXX căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 giỏ nhựa, 01 tấm vải đê ̣m là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc thuô ̣c sở hữu của Cao Văn T1 bi ̣ các bi ̣ cáo khác sử du ̣ng trái phép. Ta ̣i phiên tòa, bi ̣ cáo T1 yêu cầu được nhâ ̣n la ̣i nên đề nghi ̣ của Kiểm sát viên về xử lý các vâ ̣t chứ ng này là không có cơ sở chấp nhâ ̣n. HĐXX căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS, xét thấy cần trả la ̣i cho Cao Văn T1.

Đối vớ i số tiền được thu giữ trên ngườ i của các bi ̣ cáo và ngườ i làm chứ ng Trần Quốc H6, quá trinh điều tra bổ sung và thẩm tra công khai ta ̣i phiên tòa xác

̀ đi ̣nh không có căn cứ chứ ng minh số tiền này se đượ̃

c sử du ̣ng vào mu ̣c đich đá

́nh ba ̣c.Vi vâ ̣̀ y, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, ghi nhâ ̣n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố RG, tinh Kiên Giang đả

trã ̉ la ̣i cho Cao Văn Th số tiền 80.000 đồng, Nguyễn Văn A số tiền 8.600.000 đồng, Huỳnh Văn D số tiền 4.000.000 đồng, Lưu Hùng C1 số tiền 460.000 đồng và Trần Quốc H6 số tiền 9.400.000 đồng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 BLTTHS,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Tuyên bố các bị cáo: Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T, Lưu Hùng C1 (tên go ̣i khác: U) và Cao Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các khoản 1, 3 Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35 BLHS đối với các bị cáo Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Lưu Hùng C1, Cao Văn T1; riêng bị cáo Lưu Hùng C1 được áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt các bị cáo:

- Cao Văn Th 35.000.000 (ba mươi lăm triê ̣u) đồng.

- Huỳnh Văn D 30.000.000 (ba mươi triê ̣u) đồng.

- Nguyễn Văn A 30.000.000 (ba mươi triê ̣u) đồng.

- Lưu Hùng C1 25.000.000 (hai mươi lăm triê ̣u) đồng.

- Cao Văn T1 25.000.000 (hai mươi lăm triê ̣u) đồng.

Các bi ̣ cáo bi ̣ xử pha ̣t tiền là hinh pha ̣̀

t chính nên không áp du ̣ng hình pha ̣t bổ sung đối vớ i các bi ̣ cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các khoản 1, 3 Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 BLHS, xử pha ̣t bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Á p du ̣ng khoản 1 Điều 56 BLHS, tổng hợp vớ i hinh pha ̣t 02 (hai) năm 02 (hai)

̀ tháng tù của Bản án số 01/2023/HS-ST ngày 15/02/2023 của Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 9, bi ̣ cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình pha ̣t chung là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thờ i ha ̣n chấp hành hình pha ̣t tù được tính từ ngày 29/8/2023.

* Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321; khoản 2, khoản 3 Điều 35 BLHS xử phạt: Nguyễn Văn T 10.000.000 (mườ i triệu) đồng.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.000.000 (chín triê ̣u) đồng.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy 10 (mườ i) bộ bài tú lơ khơ.

- Á p du ̣ng khoản 1 Điều 106 BLTTHS, trả la ̣i cho Cao Văn T1 01 (một) giỏ nhựa, 01 (một) tấm vải đê ̣m.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản bắt người phạm tội quả tang của Công an phườ ng AH ngày 02/12/2022 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2023 của Viê ̣n kiểm sát quân sự Khu vực 2 - Bộ đội Biên phòng).

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, các bị cáo Cao Văn Th, Huỳnh Văn D, Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn T, Lưu Hùng C1 và Cao Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/11/2023), các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân khu 9./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ