vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng Tuyên án 02/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Mạnh C - Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày 02-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/HSST-QĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trịnh Mạnh C, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1999, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 1, xã D, huyện V, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đức D1 và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 05-7-2022, tạm giữ ngày 06-7-2022; tạm giam ngày 14-7-2022; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đỗ Văn Thế; vắng mặt;

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Hữu; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 05-7-2022, Trịnh Mạnh C và Phạm Xuân Dương, sinh năm 2001; trú tại: Khu dân cư Tiền Hải, thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ăn cơm uống rượu tại nhà Đinh Huy Tuấn, sinh năm 1984; trú tại: Thôn Cựu Điện, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Tại nhà Tuấn, Dương bảo Cường đi bán ma túy cho khách, Cường đồng ý. Dương đưa cho Cường 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0938.393.555; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0862.473.743 và 0979.421.129. Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, Cường nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0972.485.465 của 01 nam giới gọi vào số điện thoại 0862.473.743 hỏi mua 05 viên kẹo và 01 gam Ketamine, Cường báo giá 3.000.000 đồng, người nam giới này đồng ý mua và hẹn Cường giao dịch ở khu vực quán karaoke Ánh Sao Đêm thuộc địa phận xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo. Cường thông báo lại nội dung cho Dương, Dương đồng ý và điều khiển xe môtô Biển kiểm soát 15K1-397.48 chở Cường từ nhà Tuấn về phòng trọ của Dương ở thôn Cựu Điện, xã Nhân Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Khi đến nơi, Cường đứng ở cổng nhà trọ còn Dương đi vào, khoảng 05 phút sau, Dương ra cổng đưa cho Cường 01 túi nilon bên trong có 05 viên kẹo hình chữ nhật, 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, Cường cất số ma túy vào túi quần phía trước bên phải, sau đó Cường rủ Đỗ Văn Thế, sinh năm 1994; trú tại: Thôn Nhân Giả, xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ở cùng dãy trọ với Dương đi ăn đêm. Cường nhờ Thế điều khiển xe môtô Biển kiểm soát BKS 15K1-397.48 chở Cường đi xuống xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo có việc. Khi Cường và Thế đi đến khu vực đường Nguyễn Bỉnh Khiêm gần quán karaoke Ánh Sao Đêm thuộc địa phận thôn Hậu Đông, xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo, Cường gọi điện thoại cho khách mua ma túy ra chỗ Cường để giao ma túy. Trong lúc chờ khách đến thì Cường bị lực lượng Công an huyện Vĩnh Bảo kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Cường 01 túi nilon bên trong có 05 viên kẹo hình chữ nhật (mẫu số 1), 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 2) nghi là ma túy và số tiền 2.100.000 đồng; thu tại túi quần bên trái phía trước của Cường 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu vàng có sim số 0382.240.899, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0938.393.555; thu trên tay phải của Cường 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0862.473.743 và 0979.421.129, thu giữ 01 xe môtô Biển kiểm soát 15K1-397.48.

Tại Kết luận giám định số 330/KL-KTHS (MT) ngày 11-7-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “05 viên nén của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,71 gam, là loại MDMA; tinh thể màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,90 gam, là loại Ketamine”.

Tại Cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 27-12-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trịnh Mạnh C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trịnh Mạnh C về tội Mua bán trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù; căn cứ Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước; căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì giấy được niêm phong số 587/MT/PC09; trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone 6s Plus có sim số 0382.240.899 và số tiền 2.100.000 đồng. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên thu thập; bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp. Do đó những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, cung cấp trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nhận định các tình tiết của vụ án:

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, đủ cơ sở xác định: Do muốn kiếm lời nên khi được 01 nam giới gọi điện hỏi mua ma túy, bị cáo đã đồng ý và hẹn địa điểm để bán ma túy cho người nam giới. Khi bị cáo đến điểm hẹn giao ma túy nhưng chưa kịp thực hiện việc giao nhận ma tuý thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật là ma túy, có khối lượng 1,71 gam ma túy loại MDMA và 0,90 gam ma túy loại Ketamine vào khoảng 22 giờ ngày 05-7-2022 tại khu vực thôn Hậu Đông, xã Liên Am, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02-02-2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, thì tổng khối lượng hai chất ma túy đã thu giữ của bị cáo tính theo tỉ lệ % so với mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là: (1,71 gam MDMA x 100 : 5) + ( 0,90 gam Ketamine x 100 : 20) = 38,7% (thuộc trường hợp dưới 100%). Như vậy, tổng khối lượng của hai chất ma tuý thu giữ của bị cáo không thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự nên bị cáo phạm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thấy rằng, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thỏa đáng nhằm đảm bảo trừng trị người phạm tội, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Thấy rằng, bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng của vụ án đã thu giữ được xử lý như sau: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định trong 01 (một) bì giấy được niêm phong số 330/MT/PC09 là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu vàng có sim số 0382.240.899 và 2.100.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe môtô Biển kiểm soát 15K1-397.48 (đăng ký mang tên ông Phạm Văn Chín, sinh năm 1970; trú tại: Khu dân cư Tiền Hải, thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng là bố đẻ Phạm Xuân Dương), 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0938.393.555 và 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0862.473.743 và 0979.421.129. Hiện nay, Phạm Xuân Dương không có mặt tại địa phương. Do vậy, chưa xác minh, làm rõ chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với Phạm Xuân Dương (theo lời khai của bị cáo, Dương là người đưa cho bị cáo 01 túi nilon bên trong có 05 viên kẹo hình chữ nhật, 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0938.393.555, 01 điện thoại di động Nokia màu xanh có sim số 0862.473.743 và 0979.421.129, 01 xe môtô Biển kiểm soát 15K1-397.48) để bị cáo đi bán ma túy cho người khác. Hiện nay qua xác minh Dương không có mặt ở địa phương, gia đình không biết Dương đang ở đâu, kết quả xác minh các số điện thoại 0938.393.555, 0862.473.743 và 0979.421.129, tên chủ thuê bao đều không mang tên Phạm Xuân Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo tách hành vi của Dương tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật.

Đối với Đỗ Văn Thế, không biết việc bị cáo cất giấu trái phép ma túy trong người để đi bán cho người khác, nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với Đỗ Văn Thế là phù hợp.

Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0972.485465 gọi điện hỏi mua ma tuý của bị cáo vào tối ngày 05-7-2022, hiện chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trịnh Mạnh C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt quả tang 05-7-2022.

Căn cứ vào Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt tiền bị cáo Trịnh Mạnh C 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 (một) bì giấy được niêm phong số 330/MT/PC09; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu vàng có sim số 0382.240.899 và 2.100.000 đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30-12-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo và Uỷ nhiệm chi lập ngày 10-01-2023 giữa giữa Công an huyện Vĩnh Bảo và Kho bạc Nhà nước Vĩnh Bảo.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ