- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Như T + ĐB - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như T và bị cáo Trần L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày: 23-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Sâm và ông Đào Minh Phấn.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thụy Anh Đào – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Đức T – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 11/2023/TLST-HS ngày 13/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 11/5/2023 đối với các bị cáo:
1. Phạm Như T, sinh năm 1998 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn K1, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hải, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Danh, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 05/3/2023, bị tạm giữ từ ngày 05/3/2023 đến ngày 14/3/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ninh Hải (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Trần L, sinh năm 1995 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn K2, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Nhánh, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Phương, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/3/2023, bị tạm giữ từ ngày 05/3/2023 đến ngày 14/3/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ninh Hải (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Khu phố K1, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
+ Ông Phạm Hải, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn K1, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt).
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Thành Th, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu phố Khánh Sơn 1, thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
+ Ông Phạm L, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn M1, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
+ Ông Nguyễn L1 (Nhu), sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn M1, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 05/3/2023, Nguyễn Thành Th gọi điện thoại cho Trần L hỏi mua 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng thì L đồng ý. Do không có sẵn ma túy nên L gọi điện thoại cho Phạm Như T hỏi mua 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng để bán lại cho Th. T đồng ý bán và hẹn L xuống nhà T ở thôn K1, xã N, huyện N để nhận ma túy và tiền. Sau đó Th điều khiển xe mô tô biển số 85V1-2227 đến trại tôm ở thôn Khánh Hội, xã Tri Hải, huyện Ninh Hải để chở L đến nhà T lấy ma túy. Khi đến khu vực Ngân hàng Nam Á thuộc thôn Khánh Nhơn 1 thì L nói Th dừng lại và đứng đợi, còn L lấy 300.000 đồng và xe mô tô đi đến nhà T. Đến nơi L đưa cho T 300.000 đồng rồi đi ra phía sau nhà chờ, còn T gọi điện thoại cho người tên H ở Khánh Hải để hỏi mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng, H đồng ý và hẹn T đến khu vực trường Cao đẳng sư phạm để nhận tiền và ma túy. T điều khiển xe mô tô biển số 85C1-075.49 đến điểm hẹn đưa cho H 1.000.000 đồng và lấy 04 tép ma túy giấu trong người rồi đi về nhà. T lấy 01 tép ma túy giấu trong khẩu trang và đi ra phía sau nhà giao cho L rồi đi nghỉ. Sau khi nhận ma túy từ T, L đi giao cho Th thì bị Công an bắt quả tang, thu giưc 01 tép nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), xe mô tô biển số 85V1-2227. Đồng thời, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Như T, thu giữ 03 tép nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2), Ngoài ra, còn tạm giữ của Phạm Như T 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bị hư bàn phím và của Trần L 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9 màu xám, ốp lưng màu xanh đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 79/KL-KTHS ngày 13 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận:
Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0370gam và đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,3535gam và khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,2708gam.
Quá trình điều tra, Phạm Như T và Trần L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang , L khai còn 04 lần mua ma túy của T rồi bán cho Nguyễn Thành Th 03 lần và Nguyễn L1 (tên tH gọi là Nhu) 01 lần. T khai còn 02 lần bán ma túy cho Phạm L, cụ thể:
+ 03 lần Trần L bán ma túy cho Nguyễn Thành Th: Khoảng 17 giờ ngày 08/02/2023, khoảng 18 giờ ngày 15/02/2023 và khoảng 18 giờ ngày 20/02/2023, L mua ma túy của T mỗi lần 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng rồi bán lại cho Th cũng với giá 300.000 đồng tại khu vực cổng Thôn K1, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
+ 01 lần Trần L bán ma túy cho Nguyễn L1: Khoảng 12 giờ ngày 14/02/2023, L mua ma túy của T 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng rồi bán lại cho Luận cũng với giá 300.000 đồng tại khu vực trường Mầm non xã N, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
+ 02 lần Phạm Như T bán ma túy cho Phạm L:
Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 28/02/2023 T bán cho L 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng tại khu vực Đình K, xã N, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ ngày 01/3/2023, T đưa cho Trần L 01 tép ma túy để L đi giao cho L tại khu vực quán Karaoke B ở xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Những lần bán ma túy này, người mua đều chủ động liên lạc. Phạm Như T dùng số tiền có được từ việc bán trái phép chất ma túy cho Trần L, Phạm L để mua ma túy của người tên H về bán lại cho người mua.
Ngoài ra, Phạm Như T khai còn 02 lần bán ma túy cho người tên Hùng không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải. T còn mượn điện thoại của Trần Thiện Tĩnh để liên lạc bán ma túy cho Trần L. Hiện nay Hùng, Tĩnh không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra không lấy lời khai được. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề nghị xử L trong vụ án này.
* Vật chứng trong vụ án đã thu giữ, tạm giữ chưa xử L gồm:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bị hư bàn phím, đã qua sử dụng của Phạm Như T;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyS9 màu xám, ốp lưng màu xanh đã qua sử dụng của Trần L;
- 01 phong bì dán kín, có đóng dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc Th, Đinh Quang T, Trịnh Đình Q, Trần Thái B bên trong chứa 0,2708gam chất ma túy, loại Methaphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định;
Các vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đang quản L theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/4/2023 với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Hải.
Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là bà Lê Thị Thu H 01 xe mô tô nhãn hiệu Boss (kiểu dáng Dream) màu nâu, biển số 85V1-2227 (đã qua sử dụng) vì không liên quan đến tội phạm.
Bản Cáo trạng số: 12/CT-VKSNH ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố các bị cáo Phạm Như T, Trần L để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Xử phạt bị cáo Phạm Như T từ 04 năm đến 05 năm tù. Xử phạt bị cáo Trần L từ 03 năm đến 04 năm tù.
- Về xử L vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,2708gam chất ma túy, loại Methaphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói là tang vật của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bị hư bàn phím của Phạm Như T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9 màu xám, ốp lưng màu xanh đã qua sử dụng của Trần L là công cụ dùng để thực hiện tội phạm; nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 mô tô nhãn hiệu Boss (kiểu dáng Dream) màu nâu, biển số 85V1-2227 (đã qua sử dụng) mà Nguyễn Thành Th chở Trần L dùng làm phương tiện phạm tội là của bà Lê Thị Thu H. Bà H không biết mục đích Th sử dụng xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà H là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô biển số 85C1-075.49 mà Phạm Như T sử dụng là phương tiện phạm tội là của ông Phạm Hải (cha T). Ông Hải không biết mục đích sử dụng xe mô tô của T nên Cơ quan điều tra không xử L là đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Thành Th, Phạm L, Nguyễn L1 có hành vi mua ma tuý để sử dụng, nhưng hành vi này không cấu thành tội phạm; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Hải chuyển xử L hành chính là có căn cứ.
Đối tượng tên H là người bán ma túy cho Phạm Như T; đối tượng tên Hùng là người mua ma túy của Phạm Như T hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ và Trần Thiện Tĩnh không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử L sau.
Bị cáo Phạm Như T, Trần L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm Hải không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Phạm Như T và bị cáo Trần L nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị Thu H, các người làm chứng Nguyễn Thành Th, Phạm L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có L do. Xét thấy, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và đã có lời khai trong quá trình điều tra vụ án; nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt những người này.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, biên bản khám xét, Kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/02/2023 đến ngày 05/3/2023 Phạm Như T đã 07 lần bán trái phép 07 tép ma túy (mỗi lần 01 tép), loại Methamphetamine với tổng số tiền 2.100.000 đồng cho Trần L, Phạm L trên địa bàn xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Trần L biết Phạm Như T bán ma túy nên trong khoảng thời gian từ ngày 08/02/2023 đến ngày 05/3/2023 đã 05 lần mua của T 05 tép ma túy (mỗi lần 01 tép) loại Methamphetamine rồi bán lại cho Nguyễn Thành Th, Nguyễn L1. Đồng Thời L còn 01 lần đi bán ma túy cho Phạm L ngày 01/3/2023 giúp Phạm Như T.
Hành vi trên của các bị cáo thuộc tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 12/CT-VKSNH ngày 12/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 251 Bộ luật Hình sự qui định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a...
b. Phạm tội 02 lần trở lên ...”.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định về quản L các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội; nhưng chỉ vì để kiếm lời và có ma túy cho bản thân sử dụng, các bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội để thực hiện hành vi phạm tội, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội đã gây ra.
Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có cấu kết chặt chẽ, đều là người thực hành và bị cáo Trần L 01 lần giúp sức cùng bị cáo Phạm Như T bán ma túy cho Phạm L; nên đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Các bị cáo đều là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy; trong đó bị cáo T biết và liên hệ mua ma túy, loại Methaphetamine của một người tên H không rõ họ tên, địa chỉ ở khu vực Ninh Hải rồi đem về nhà tại thôn K1, xã N, huyện N, tỉnh Ninh với mục đích vừa để sử dụng và bán lại kiếm lời. Bị cáo Trần L biết T bán ma túy nên khi có người có nhu cầu thì chủ động liên hệ với T để ma ma túy bán lại và 01 lần giúp sức bán ma túy cho bị cáo T với mục đích được T cho sử dụng ma túy. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo T mức án cao hơn bị cáo L thì mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải qui định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; nên được Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xem xét chuyển khung hình phạt.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. Nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với Nguyễn Thành Th, Phạm L và Nguyễn L1 đã mua ma túy của các bị cáo để sử dụng, nhưng không cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đã vi phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình. Vì vậy, Công an huyện Ninh Hải chuyển xử L hành chính là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối tượng tên H là người bán ma túy cho bị cáo T; đối tượng tên Hùng là người mua ma túy của bị cáo T hiện chưa xác định được họ tên, địa chỉ và ông Trần Thiện Tĩnh không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử L sau.
Về xử L vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Đối với 01 phong bì dán kín, có đóng dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc Thư, Đinh Quang Tuân, Trịnh Đình Quân, Trần Thái Bình bên trong chứa 0,2708gam chất ma túy, loại Methaphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định là tang vật của vụ án; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bị hư bàn phím của Phạm Như T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung GalaxyS9 màu xám, ốp lưng màu xanh đã qua sử dụng của Trần L là công cụ dùng để thực hiện tội phạm; Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Các vật chứng tại [12.1] và [12.2], Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đang quản L theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/4/2023 với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Hải.
Đối với 01 mô tô nhãn hiệu Boss (kiểu dáng Dream) màu nâu, biển số 85V1-2227 (đã qua sử dụng) mà Nguyễn Thành Th chở Trần L dùng làm phương tiện phạm tội là của bà Lê Thị Thu H. Bà H không biết mục đích ông Th sử dụng xe để làm gì; Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà H theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 10/3/2023 là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 xe mô tô biển số 85C1-075.49 mà Phạm Như T sử dụng là phương tiện phạm tội là của ông Phạm Hải (cha T). Ông Hải không biết mục đích sử dụng xe mô tô của T. Cơ quan điều tra không thu giữ và không đề nghị xử L; nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với các bị cáo, về xử L vật chứng và án phí là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Như T và bị cáo Trần L.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Như T và bị cáo Trần L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Như T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2023.
- Xử phạt bị cáo Trần L 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/3/2023.
2. Về xử L vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín, có đóng dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc Thư, Đinh Quang Tuân, Trịnh Đình Quân, Trần Thái Bình bên trong chứa 0,2708gam chất ma túy, loại Methaphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen bị hư bàn phím của bị cáo Phạm Như T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9 màu xám, ốp lưng màu xanh đã qua sử dụng của bị cáo Trần L.
- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận tiếp tục tạm giữ vật chứng đang quản L theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/4/2023 với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Hải để thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phạm Như T và bị cáo Trần L mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/5/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Hải; - Công an huyện Ninh Hải; - Chi cục THADS huyện Ninh Hải; - Thi hành án phạt tù; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - UBND xã Nhơn Hải; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nghiêm |