vanban.org

Bản án 15/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVN 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/6/2023. Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án LVN phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày 26-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Quàng Thị Hỏa.

Ông Lò Văn Khẹt.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

LVN, sinh ngày 03/9/1978, tại MB, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản TM, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVL, đã chết và con bà LTO, sinh năm 1954; có vợ là HTM, đã ly hôn; có một con sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại bản án số: 01/2004/HSST ngày 23/02/2004 của TAND huyện Mường La đã xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số: 21/2005/HSST ngày 11/3/2005 của TAND huyện Mường La đã xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số: 128/2007/HSST ngày 23/3/2007 của TAND tỉnh Sơn La đã xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và trốn khỏi nơi giam; Tại bản án số: 101/2015/HSST ngày 28/9/2015 của TAND tỉnh Sơn La đã xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số: 95/2019/HSST ngày 29/11/2019 của TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chưa được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2023; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo LVN bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 20 giờ 05 phút ngày 18/6/2023, tại bản Cứp, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang LVN, sinh ngày 03/9/1978, ở bản TM, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ do LVN tự giác lấy từ trong túi áo bên phải đang mặc giao nộp:

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng, LVN khai là hồng phiến để sử dụng;

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, LVN khai là Heroine để sử dụng;

Ngày 19/6/2023 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do LVN tự giác giao nộp:

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng, LVN khai là hồng phiến để sử dụng, có khối lượng 0,09 gam lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N;

01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa cục bột màu trắng, LVN khai là Heroine để sử dụng, có khối lượng 0,53 gam lấy 0,30 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu N1;

Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1574/KL-KTHS ngày 22/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu N là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,09 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,09 gam loại Methamphetamine;

Mẫu ký hiệu N1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,53 gam Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo LVN không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra LVN khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/6/2023 LVN đi từ nhà đến khu vực bản Văn Minh, xã MB, huyện Mường La, có gặp người đàn ông tên là Quý, không biết họ, địa chỉ, quen biết do cùng là

2

con nghiện. Qua trao đổi tìm nơi mua ma túy với số tiền là 350.000, đồng, Quý nhất trí chở LVN bằng xe máy loại WEVE đi đến khu vực bản Pặt, xã Mường Chùm, huyện Mường La. LVN đưa cho Quý số tiền 350.000, đồng. Quý đi một lúc quay lại đưa cho LVN 02 gói nilon màu trắng ma túy. Sau khi có ma túy LVN cất vào túi áo bên phải đang mặc và cùng Quý đi về, khi đi đến khu vực bản Cứp, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng. Còn người tên Quý phóng xe bỏ chạy không truy đuổi được.

Về nguồn gốc ma túy LVN khai nhờ người đàn ông tên Quý không biết họ, địa chỉ mua với số tiền 350.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVN.

LVN đã bị kết án 5 lần, đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVN đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 100/CT-VKS-ML ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo LVN về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt LVN từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng; 0,23 gam Heroine (đều được niêm phong).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

3

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo LVN thừa nhận: Hồi 20 giờ 05 phút ngày 18/6/2023, tại bản Cứp, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,09 gam và 01 gói Heroine có khối lượng 0,53 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Tổng số ma túy thu giữ là 0,62 gam.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: LVN đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do bị cáo đã bị kết án 05 lần: Tại bản án số: 01/2004/HSST ngày 23/02/2004 của TAND huyện Mường La đã xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số: 21/2005/HSST ngày 11/3/2005 của TAND huyện Mường La đã xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số: 128/2007/HSST ngày 23/3/2007 của TAND tỉnh Sơn La đã xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và trốn khỏi nơi giam; Tại bản án số: 101/2015/HSST ngày 28/9/2015 của TAND tỉnh Sơn La đã xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số: 95/2019/HSST ngày 29/11/2019 của TAND huyện Mai Sơn đã xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chưa được xóa án tích, đã tái phạm nguy hiểm 03 lần, nay tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm lần thứ tư, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm o “Tái phạm nguy hiểm” khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.

4

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng; 0,23 gam Heroine (đều được niêm phong).

Về nguồn gốc ma túy LVN khai nhờ người đàn ông tên Quý không biết họ, địa chỉ mua với số tiền 350.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVN, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm o “Tái phạm nguy hiểm” khoản 2 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 53; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo LVN phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo LVN 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/6/2023.

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng; 0,23 gam (không phẩy hai mươi ba) Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 19/6/2023).

Theo biên bản giao nhận vật chứng cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 26/10/2023.

5

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ