- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Bị cáo Phan Thị C phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày: 27/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Đa.
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sơn.
2. Ông Nguyễn Văn Ngoãn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Ông Trương Trung Hiếu – Kiểm sát viên
Trong ngày 27/3/2023, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 12/2023/TLST-HS, ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phan Thị C; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1957; Nơi sinh: huyện K; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 01/12; Họ và tên cha: Phan Văn T (Đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1 (Đã chết); A, em ruột: có 09 người lớn nhất sinh năm 1941, nhỏ nhất sinh năm 1963; Họ tên chồng: Trần Văn L, sinh năm 1959, ngụ cùng địa chỉ bị cáo; Bị cáo có 05 người con: Lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền sự: Ngày 27/8/2022, có hành vi đánh bạc trái phép bị Công an xã X xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 75 ngày 02/9/2022 (chưa được xóa tiền sự); Tiền án: Không; Bị cáo Phan Thị C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 09/12/2022 cho đến nay.
(Bị cáo C có mặt)
2. Họ và tên: Nguyễn Thị V; Tên gọi khác: Xinh; Giới tính: Nữ; Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1973; Nơi sinh: huyện K; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: Không biết chữ; H và tên cha: Nguyễn Văn L1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị V1 (đã chết); Họ tên chồng: Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1977, ngụ cùng địa chỉ bị cáo; Bị cáo có 03 người con: Lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền sự: Ngày 27/8/2022, có hành vi đánh bạc trái phép bị Công an xã X xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 76 ngày 02/9/2022 (chưa được xóa tiền sự); Tiền án: Không; Bị can Nguyễn Thị V bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 04/01/2023 cho đến nay.
(bị cáo V có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960 (có mặt). Địa chỉ: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
* Người làm chứng:
Bà Hồ Thị Phương T2, sinh năm 1981 (có mặt).
Bà Nguyễn Thị Thắm N, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Ông Cao Hoài T3, sinh năm 1987 (có mặt).
Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1982 (có mặt).
Bà Đinh Thị Bích T4, sinh năm 1969 (có mặt).
Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 08/10/2022 nhận được tin báo của anh Cao Minh B, sinh năm 1984 ngụ ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng về việc tại nhà của ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960 ngụ ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng có nhiều đối tượng tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền nên Công an xã X tiến hành thành lập đoàn kiểm tra hành chính tại nhà của ông K. Tại thời điểm lập biên bản có 11 người.
Qua làm việc xác định được vào khoảng từ 14 giờ đến 15 giờ 10 phút ngày 08/10/2022 có 06 đối tượng là Nguyễn Thị V, Phan Thị C, Nguyễn Văn P1, Cao Hoài T3, Hồ Thị Phương T2 và Nguyễn Thị Thắm N tự tập trung lại tham gia chơi đánh bài binh 06 lá (bài binh ấn độ) ăn thua bằng tiền tại trước hàng ba nhà ông Nguyễn Văn K, cụ thể:
Khi bắt đầu chơi anh Cao Hoài T3 là người làm cái, sau đó thì đến chị Hồ Thị Phương T2 làm cái. Hình thức đánh bạc là chơi bài binh 06 lá (bài binh ấn độ), có 04 tụ, trong đó 01 tụ làm cái và 03 tụ đặt tiền cược và những người còn lại đứng bên ngoài tham gia ké thạnh. Hình thức ăn thua là người làm cái chia cho mỗi người chơi 06 lá bài, sau khi nhận lá bài thì các đối tượng phân bài ra làm hai chi mỗi chi 03 lá bài, cách tính điểm lớn nhất là T5 (J, Q, K), sau đó đến 09 nút bài, nhỏ nhất là bù (10 nút bài), nếu người nào thắng 02 chi là thắng, thắng 01 chi thua 01 chi là huề, thua hai chi là thua và chỉ tính thắng thua với nhà cái. Số tiền đặt mỗi người chơi dao động từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, còn các đối tượng tham gia ké thạnh thì ké thạnh với số tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, xòng bài không có người tổ chức lấy xâu.
Tổng số tiền các đối tượng mang theo dùng để đánh bạc là 593.000 đồng (Năm trăm, chín mươi ba nghìn đồng), cụ thể như sau:
Phan Thị C mang theo số tiền 60.000 đồng để đánh bạc, từ lúc tham gia đến khi lực lượng Công an đến bắt lập biên bản thì C1 tham gia đặt ké tụ nhà cái của T2 03 bàn, mổi bàn 20.000 đồng và thua hết số tiền 60.000 đồng, khi kiểm tra lập biên bản không tạm giữ gì.
Nguyễn Thị V mang theo số tiền 20.000 đồng để đánh bạc, từ lúc tham gia đến khi lực lượng Công an đến bắt lập biên bản thì V tham gia đặt ké một tụ với Thắm N 01 bàn số tiền 20.000 đồng và thua hết số tiền 20.000 đồng, khi kiểm tra lập biên bản không tạm giữ gì.
Ông Nguyễn Văn P1 mang theo trên người số tiền 20.000 để đánh bạc, từ lúc tham gia đến khi lực lượng Công an đến bắt lập biên bản thì thua hết số tiền 20.000 đồng, khi kiểm tra lập biên bản không tạm giữ gì.
Ông Cao Hoài T3 mang theo trên người số tiền 190.000 đồng để đánh bạc, từ lúc tham gia đến khi lực lượng Công an đến bắt lập biên bản thì ăn được số tiền 20.000 đồng, khi kiểm tra lập biên bản tạm giữ số tiền 210.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Thắm N mang theo số tiền 20.000 đồng để đánh bạc, từ lúc tham gia đến khi lực lượng Công an đến bắt lập biên bản thì thua hết số tiền 20.000 đồng, khi kiểm tra lập biên bản không tạm giữ gì.
Bà Hồ Thị Phương T2 mang theo số tiền 283.000 đồng để đánh bạc, từ lúc tham gia đánh bạc đến khi lực lượng Công an đến bắt lập biên bản thì thua hết số tiền 50.000 đồng, khi kiểm tra lập biên bản tạm giữ số tiền 233.000 đồng, trong đó số tiền 230.000 đồng chi T2 để trên nền gạch trước mặt chị T2 ngồi và 3.000 đồng trong túi quần.
Phan Thị C và Nguyễn Thị V đều có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa được xoá tiền sự.
Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu chứng cứ thu được ngày 09/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã khởi tố vụ án, khởi tố đối với Phan Thị C ; Ngày 04/01/2023 khởi tố đối với Nguyễn Thị V cùng về tội Đánh bạc.
Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKS-H.KS ngày 24 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố bị cáo Phan Thị C và Nguyễn Thị V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo C và V như bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Phan Thị C từ 06 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Phạt bị cáo Nguyễn Thị V từ 06 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65, của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đề nghị: Tuyên tịch thu, tiêu hủy 106 lá bài tây không còn giá trị sử dụng; Tịch thu sung quỹ số tiền 233.000 đồng là tiền của Hồ Thị Phương T2; Số tiền 210.000 đồng của Cao Hoài T3 là tang vật trong vụ án.
Các bị cáo C và V đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng, bị cáo biết lỗi về hành vi của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K trình bày: Lời khai của bà C và V tại phiên tòa là đúng, ông K không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng bà Nguyễn Thị Thắm N, ông Nguyễn Văn P1, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn L3 vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Xét thấy sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu hoãn phiên tòa nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có căn cứ để kết luận: Vào lúc 15 giờ 10 phút ngày 08/10/2022 tại hàng ba trước nhà của ông Nguyễn Văn K thuộc ấp H, xã X, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng các bị cáo Phan Thị C, Nguyễn Thị V đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (chưa được xóa tiền sự), nhưng lại có hành vi đánh bạc (chơi bài binh 06 lá) ăn thua bằng tiền trái phép với nhiều người thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền được xác định dùng để đánh bạc là 593.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo C và V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đã trực tiếp đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài binh 6 lá được thua bằng tiền; số tiền đánh bạc thu được tại chiếu 593.000 đồng. Tuy số tiền đánh bạc của các bị cáo dưới 5.000.000 đồng nhưng các bị cáo đã có tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa được xóa tiền sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo C và V phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân. Các bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng lại tiếp tục vi phạm. Hội đồng xét xử thấy cần có hình thức xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi bị khởi tố, điều tra về hành vi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có trình độ học vấn thấp. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Theo quy định, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Sau khi xem xét hoàn cảnh của các bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: 106 lá bài tây là tang vật trong vụ án cần tiến hành tịch thu, tiêu hủy; Tịch thu sung quỹ Số tiền 233.000 đồng là tiền của Hồ Thị Phương T2 (230.000 đồng tạm giữ dưới chiếu bạc, 3.000 đồng tạm giữ trên người); Số tiền 210.000 đồng của Cao Hoài T3 là tang vật trong vụ án.
Về án phí, bị cáo C được miễn án phí do thuộc diện người cao tuổi theo quy định.
Bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định.
Đối với những người có liên quan: Có tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, nhưng chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện lập thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
1.1. Bị cáo Phan Thị C phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Phạt bị cáo Phan Thị C 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
1.2. Bị cáo Nguyễn Thị V phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Phạt bị cáo Nguyễn Thị V 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
1.3. Trong thời gian thử thách, giao các bị cáo Phan Thị C và Nguyễn Thị V cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để giám sát, giáo dục. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 106 lá bài tây;
Tịch thu sung quỹ: Số tiền 233.000 đồng của bà Hồ Thị Phương T2; Số tiền 210.000 đồng của ông Cao Hoài T3.
(Tang vật được liệt kê theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/03/2023 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Thị C được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng ; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Công an huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - UBND xã X; - Bị cáo; NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Đa |