vanban.org

Bản án 15/2023/HS=ST — Hình sự

TAND huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 06/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tống Tiến L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Tống Tiến L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án. Án phí: Bị cáo Tống Tiến L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Tiến Lực - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tống Tiến L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-ST
Ngày: 06 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Dũng

2. Ông Mai Tấn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hữu Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Tống Tiến L (tên gọi khác B), sinh năm 1988 tại huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tống S (đã chết) và bà Dương Thị V, sinh năm: 1952; Tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 13/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số 18/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015, chưa thực hiện nghĩa vụ đóng án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân: Ngày 21/3/2023, Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2023/HSST.

Bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện Diên Khánh; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Hồ Thị Th, sinh năm 1966

(Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Nguyễn Y, sinh năm 1966

(Có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.

2. Bà Nguyễn Thị Ánh S, sinh năm 1986

(Vắng mặt)

3. Ông Trần L, sinh năm 1983

(Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: 91 C, tổ H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tống Tiến L là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 11 giờ ngày 12/10/2022, L đi bộ qua khu vực tổ dân phố P, thị trấn D, khi đến cửa hàng bán trái cây của người quen là bà Hồ Thị Th, L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của bà Th để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. L nói dối bà Th là ở nhà có chuối cần bán và đề nghị bà Th cho mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave Up BKS 79K4-0796 để về chở chuối ra bán cho bà Th. Do đã biết L là em ruột của bạn hàng buôn bán trái cây và trước đó có lần L đã từng chở chuối đến bán cho mình nên bà Th đồng ý cho L mượn xe mô tô BKS 79K4-0796 để L về chở chuối ra bán cho bà Th. L điều khiển xe đến tiệm thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị Ánh S ở địa chỉ 91 C, tổ H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa bán xe với giá 550.000 đồng. Sau đó, L đi bộ đến khu vực Lầu 7, phường V, thành phố N mua 5 tép ma túy với số tiền 500.000 đồng từ một người không rõ nhân thân lai lịch để sử dụng và đi xe ôm về nhà hết 50.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bà Th không thấy L quay lại nên đến nhà tìm L thì L thừa nhận đã bán xe mô tô của bà Th để mua ma túy sử dụng. Sau đó, bà Th trình báo sự việc đến Công an thị trấn D.

Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị Ánh S xác định bà không biết xe mô tô mà bà đã mua của L là do bị cáo phạm tội mà có, mặt khác, sau khi mua xe, bà đã tháo rời từng bộ phận của xe để bán lại cho các vựa thu mua phế liệu khác nên hiện nay xe không còn.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Diên Khánh xác định: Xe mô tô BKS 79K4-0796 có giá trị 3.600.000 đồng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Diên Khánh, bị cáo Tống Tiến L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 12/CT-VKSDK ngày 07/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh truy tố bị cáo Tống Tiến L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra Công an huyện Diên Khánh đã truy tìm nhưng không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại bà Hồ Thị Th và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Y, bà Nguyễn Thị Ánh S, ông Trần L không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.

Tại phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Tống Tiến L từ 12 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do không có ai yêu cầu. Về vâ ̣t chứ ng vu ̣ án: Không thu hồi được nên không xem xét. Về án phí: Bị cáo phải nô ̣p án phi hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

́ ̀

Tại phiên tòa, bi ̣ cáo thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh và không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diên Khánh, Điều Tra Viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Bị hại bà Hồ Thị Th và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ánh S, ông Trần L vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để xác định: Vào ngày 12/10/2022, tại Tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa, vì cần tiền mua ma túy sử dụng, bị cáo Tống Tiến L đã lừa đảo, nói dối bà Hồ Thị Th để mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave Up BKS 79K4-0796 của bà Th sau đó chiếm đoạt, mang đi bán được 550.000 đồng. Xe mô tô BKS 79K4-0796 mà bị cáo L chiếm đoạt có giá trị 3.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo Tống Tiến L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 12/CT-VKSDK ngày 07/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm pháp, nhưng vì lười lao động, bản thân nghiện ma túy, để có tiền sử dụng ma túy bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng của bị hại, đưa thông tin sai sự thật để bị hại tin tưởng mà giao tài sản cho bị cáo sau đó chiếm đoạt tài sản của họ. Bị cáo đã từng bị xét xử 01 năm tù về tội "Cưỡng đoa ̣t tài sản", chưa được xóa án tich mà lại tiếp tục thự́

c hiê ̣n hành vi phạm tội nên lần pha ̣m tô ̣i này thuô ̣c trườ ng hợp tái pha ̣m quy đi ̣nh ta ̣i điểm h khoản 1 Điều 52 của Bô ̣ luâ ̣t Hình sự. Mă ̣t khác, trước khi thực hiê ̣n hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên, bi ̣ cáo đã thực hiê ̣n hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 18/9/2022 và bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2023/HSST ngày 21/3/2023, điều này chứ ng tỏ bị cáo có thái đô ̣ bất chấp, xem thườ ng pháp luâ ̣t. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tô ̣i pha ̣m chung.

[5] Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhe ̣ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo để sớm hòa nhập cộng đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: Do vật chứng của vụ án là xe mô tô BKS 79K4-0796 không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

[7] Đối với hành vi mua xe mô tô BKS 79K4-0796 của bà Nguyễn Thị Ánh S: Do bà S không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà S.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hồ Thị Th và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Y, bà Nguyễn Thị Ánh S, ông Trần L không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Các Điều 136, 292, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Tống Tiến L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Xử phạt bị cáo Tống Tiến L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Án phí: Bị cáo Tống Tiến L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ