- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ TỈNH LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày: 12 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ, TỈNH LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Ngọc Mai
Ông Dương Tấn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, tên gọi khác: không; Sinh năm: 1996, tại: LA; Nơi cư trú: ấp 7, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 4/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn Tỷ (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Bé Thu.
- Tiền án: Không
- Tiền sự: 03
+ Ngày 10/5/2019, Nguyễn Văn T bị Công an xã PĐ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
+ Quyết định số 151/QD-UBND, ngày 12/6/2019, của Chủ tịch UBND xã PĐ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Văn T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là 03 tháng.
+ Ngày 04/5/2020, Tòa án nhân dân huyện CĐ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 12/4/2022.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện CĐ, tỉnh LA từ ngày 10/01/2023 cho đến nay (có mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Phương Tr, sinh năm: 1980 (có mặt);
Nơi cư trú: ấp 7, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA.
Người làm chứng:
1. Anh Trần Thanh Th, sinh năm: 2002 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp 1, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA.
2. Ông Bùi Văn H, sinh năm: 1956 (có mặt);
Nơi cư trú: ấp 7, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi của bị cáo: do nghiện ma túy nên vào khoảng 19 giờ ngày 09/01/2023, T nhờ bạn tên Sơn (không rõ họ tên, địa chỉ) chở T đến ngã ba kênh thuộc xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA để gặp Phong (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 (một) gói ma túy với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Khi đến nơi, T đưa tiền và nhận gói ma túy, T cất giấu gói ma túy trong túi quần phía trước, bên phải. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, T đến nhà của Nguyễn Phương Tr tại ấp 7, xã PĐ, huyện CĐ, tỉnh LA nằm ngủ trên gác lửng phía sau nhà. Đến khoảng 07 giờ 50 phút ngày 10/01/2023, Công an huyện CĐ tiến hành kiểm tra nhà anh Nguyễn Phương Tr. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần trước, bên phải của T có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện CĐ tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong gói nylon chứa chất nghi là ma túy, 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, loại cảm ứng, màu xám trắng và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 (một) lọ thủy tinh có nắp đậy màu xanh, được khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống hút và một lỗ gắn “nỏ” thủy tinh.
Tại Kết luận giám định số: 33/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LA, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1415 gam, loại: Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng, không oan, sai. Bị cáo không có ý kiến về Bản kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LA kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1415gam, loại: Methamphetamine. Do bị cáo nghiện ma túy nên mua ma túy về cất giấu để sử dụng chứ không nhằm mua để bán lại cho ai. Đối với Phong và Sơn thì bị cáo chỉ biết tên chứ không biết địa chỉ cụ thể ở đâu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Phương Tr trình bày tại phiên tòa như sau: Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 10/01/2023, Công an huyện CĐ tiến hành kiểm tra nhà anh. Việc kiểm tra có sự chứng kiến của anh. Qua kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn T đang nằm ngủ trên gác nhà của anh và phát hiện trong túi quần trước, bên phải của T có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện CĐ tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong gói nylon chứa chất nghi là ma túy, 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, loại cảm ứng, màu xám trắng và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 (một) lọ thủy tinh có nắp đậy màu xanh, được khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống hút và một lỗ gắn “nỏ” thủy tinh. T đến nhà anh lên gác nằm ngủ lúc nào anh không biết, vì nhà không có tường rào; anh không có sử dụng ma túy cùng với T.
Lời trình bày của người làm chứng ông Bùi Văn H có mặt tại phiên tòa và lời khai của anh Trần Thanh Th vắng mặt nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo và các chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra khách quan tại phiên tòa.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù; được khấu trừ thời gian tạm giữ. Do bị cáo không có thu nhập nên đề nghị miễn phạt tiền cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ Luật hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0752 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định) được đóng gói niêm phong số 33 ngày 13.01.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh LA; 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 lọ thủy tinh có gắn nắp đậy màu xanh, được khoét lỗ, một lỗ gắn ống hút và một lỗ gắn “nỏ” thủy tinh.
Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: bị cáo không tranh luận.
Bị cáo có lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét nội dung vụ án: Qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử khẳng định: khoảng 07 giờ 50 phút ngày 10/01/2023, Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy, có hành vi cất giấu 01 (một) gói ma túy trong người của T ở túi quần trước, bên phải, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an kiểm tra, phát hiện nên lập biên bản tạm giữ, niêm phong gửi đi giám định. Tại Kết luận giám định số: 33/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LA, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1415 gam, loại: Methamphetamine.
Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; tác động xấu đến nếp sống văn minh lành mạnh; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 10/5/2019, bị cáo bị Công an xã PĐ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 12/6/2019, bị cáo bị Chủ tịch UBND xã PĐ ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là 03 tháng; ngày 04/5/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện CĐ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 12/4/2022. Lẽ ra bị cáo phải thấy sai để tu sửa bản thân nhưng bị cáo lại tiếp tục mua ma túy về cất giấu để sử dụng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Với tính chất hành vi, khả năng nhận thức của bị cáo, mức độ hậu quả mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Do bị cáo không có thu nhập nên miễn phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Văn T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về vật chứng, tang vật của vụ án: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0752 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định) được đóng gói niêm phong số 33 ngày 13.01.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh LA; 01(một)kéo bằng kim loại màu trắng; 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 lọ thủy tinh có gắn nắp đậy màu xanh, được khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống hút và một lỗ gắn “nỏ” thủy tinh, bị cáo dùng vào việc phạm tội. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ Luật hình sự: tịch thu tiêu hủy. Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án Dân sự huyện CĐ, tỉnh LA đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28.3.2023.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với người thanh niên tên Phong mà T khai đã bán ma tuý cho T tại khu vực ngã ba kênh thuộc xã PĐ, huyện CĐ và người tên Sơn, chở T đi mua ma túy, do không biết rõ họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được nên chưa có cơ sở xử lý, Cơ quan CSĐT Công an huyện CĐ tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Phương Tr đang nằm ngủ tại nhà, không biết T vào nhà Tr lúc nào và không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Áp dụng Điều 106; Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 10/01/2023).
Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 ngày kể từ ngày 12/4/2023 để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về xử lý vật chứng, tang vật của vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ Luật hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0752 gam (khối lượng còn lại sau khi giám định) được đóng gói niêm phong số 33 ngày 13.01.2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh LA; 01(một)kéo bằng kim loại màu trắng; 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 lọ thủy tinh có gắn nắp đậy màu xanh, được khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống hút và một lỗ gắn “nỏ” thủy tinh, bị cáo dùng vào việc phạm tội. Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án Dân sự huyện CĐ, tỉnh LA đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28.3.2023.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Đại diện hợp pháp người bị hại (nếu có);
- Người bào chữa (Nếu có);
- Người có QLNVLQ;
- VKSND huyện CĐ;
- TAND tỉnh LA;
- VKSND tỉnh LA;
- Cơ quan CSĐT CA huyện CĐ;
- Nhà tạm giữ Công an huyện CĐ;
HUỲNH HỮU NGHĨA
- Cơ quan Thi hành án Hình sự;
- Cơ quan Thi hành án Dân sự;
- Lưu: Án văn, Hồ sơ vụ án;
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |