- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HS-ST Ngày: 26/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ma Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga và bà Chu Thị Thu Trang
Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Hữu và ông Nông Thiêm Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/HSST, ngày 22 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn T (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 16/02/1982 tại huyện N, tỉnh Cao Bằng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị M; vợ là Đặng Thị T – Đã ly hôn và có 02 con (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004); tiền sự: Không. tiền án: 01 (tại bản án số 33/2012/HSST, ngày 25/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Nhân thân: Tại bản án số 20/2019/HSST, ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo thi hành án xong hình phạt tù ngày 10/7/2020. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022 thì được tại ngoại tại địa phương cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Ông Vi Quang T, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Trú tại: T, TT C, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1991. Vắng mặt
Trú tại: T, thị trấn Ch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11h 30’ ngày 20/12/2022 tại T, thị trấn C, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Ba Bể phối hợp với Công an thị trấn Chợ Rã, huyện Ba Bể lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ và niêm phong 04 (bốn) gói ma túy vào phong bì ký hiệu B1 (Tiến hành cân xác định khối lượng được là 0,50 gam, niêm phong 0,50 gam chất dạng cục, bột màu trắng vào phong bì ký hiệu B1 gửi giám định).
Tại cơ quan điều tra Phạm Văn T khai nhận: Ngày 20/12/2022, T đi xe khách từ xã Tg, huyện N, tỉnh Cao Bằng xuống đến ngã tư thuộc t, thị trấn C, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với mục đích đi mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực Trung tâm y tế huyện Ba Bể, T gặp một người đàn ông không quen biết có biểu hiện là người nghiện chất ma túy nên T hỏi mua ma túy, người đàn ông đồng ý bán, T đưa cho người đàn ông số tiền 400.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho T 04 (bốn) gói ma túy, T để ma túy vào trong túi áo khoác đang mặc rồi đi bộ về phía đồi thông thuộc t, thị trấn C, huyện Ba Bể để sử dụng ma túy. Khi đến nơi, T lấy ra 01 gói ma túy, đổ một phần vào xi lanh, phần còn lại tiếp tục gói lại rồi dùng khẩu trang gói 04 gói ma túy lại cho vào túi áo khoác đang mặc. Khi T đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Ba Bể phối hợp với Công an thị trấn Chợ Rã phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, T đã khai nhận đang cất giữ ma túy trong túi áo khoác đang mặc và tự nguyện đem số ma túy cất giấu trong túi áo ra nộp. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 04 gói nhỏ và 01 xi lanh nhựa bên trong đều có chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là ma túy của T, có khối lượng là 0,50 gam (không phẩy năm gam).
Tại Kết luận giám định số: 12/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,50 gam (Không phẩy năm gam).
Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSBB ngày 20/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự;
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)....
c) Heroine..... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
.............
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo. Đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50, điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T09 bên trong có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi: “Vụ Phạm Văn T (1982) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T09” mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ, xi lanh, khẩu trang vụ Phạm Văn T; 01 áo phao (dạng áo khoác), màu vàng nhạt, trên áo có in chữ “Burbrerys” áo cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong túi nilon.
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị HĐXX miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Viện kiểm sát truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai: Hồi 11h 30’ ngày 20/12/2022 tại t, thị trấn C, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Phạm Văn T đã có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp 0,50 gam (Không phẩy năm gam) chất ma túy (loại Heroine). Mục đích Phạm Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy là phục vụ cho nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân, ngoài ra không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội ma túy (tại bản án số 33/2012/HSST, ngày 25/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tại bản án số 20/2019/HSST, ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cao Bằng xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thi hành xong bản án ngày 10/7/2020, nên bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52/BLHS. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Ba Bể vào ngày 20/12/2022, nhưng do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người đàn ông này nên không có cơ sở để điều tra xác minh.
. Về vật chứng: Các vật chứng cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy gồm: 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T09 bên trong có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi: “Vụ Phạm Văn T (1982) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T09” mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ, xi lanh, khẩu trang vụ Phạm Văn T;
01(một) áo phao (dạng áo khoác), màu vàng nhạt, trên áo có in chữ “Burbrerys” áo cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong túi nilon bị cáo dùng để cất giấu ma túy bất hợp pháp và bị cáo cũng không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.
. Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo của địa phương đồng thời sinh sống ở vùng có điều kiện, kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có tài sản gì giá trị, bản thân nghiện chất ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về án phí: Căn cứ Điều 12, 14, 15 - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí. Xét thấy bị cáo đủ điều kiện miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T: 20 (Hai mươi) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2022 đến ngày 29/12/2022.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T09 bên trong có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi: “Vụ Phạm Văn T (1982) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T09” mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01(một) phong bì ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ, xi lanh, khẩu trang vụ Phạm Văn T; 01 áo phao (dạng áo khoác), màu vàng nhạt, trên áo có in chữ “Burbrerys” áo cũ đã qua sử dụng, niêm phong trong túi nilon.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 20/3/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể)
* Về án phí: Căn cứ Điều 12, 14, 15 - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND H.Ba Bể 1; - VKSND tỉnh Bắc Kạn 1; - CA huyện Ba Bể 2; - Bị cáo 1; - TA tỉnh Bắc Kạn 1; - Sở tư pháp 1; - THADS 1; - Lưu HSVA, lưu trữ ; HỘI THẨM NHÂN DÂN Chu Thị Thu Trang + Nguyễn Thị Nga | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ma Thị Nguyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Thị Nguyên |