vanban.org

Bản án 15/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 09/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trường K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HS-ST ngày 17-11-2022 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, như sau:

“Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Trường K. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường K phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường K - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trường K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HS-ST ngày 17-11-2022 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-PT
Ngày 09 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũ.

Các Thẩm phán:

Ông Trần Nam Trung;

Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 02/2023/TLPT-HS ngày 03-01-2023 đối với bị cáo Nguyễn Trường K, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HS-ST ngày 17-11-2022 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trường K, sinh ngày 01/02/19xx tại Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã T, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Số A đường V, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bạch S và bà Huỳnh Thị Thu H; Có vợ và hai con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/4/2022 cho đến nay (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo K: Luật sư Trầm Thiện M – Công ty Luật TNHH MTV H, đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ: Số y đường M, khóm N, phường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

- Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Phương B; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tôn Minh B, ông Thạch S do kháng cáo của bị cáo K không liên quan đến họ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 02 năm 2021 tại khu vực đất trống trong hẻm số x đường V, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Đội Cảnh sát hình sự, Công an thành phố S phối hợp với Công an phường B, thành phố S phát hiện bắt quả tang 10 người gồm: Phạm Minh Q, Tôn Minh B, Dương Hồng S, Trần Thái S, Quách Ngọc T, Liêu Thanh P, Phan Minh T, Tôn Quốc B, Nguyễn Trường K và Nguyễn Phương B đang tham gia đánh bạc với hình thức đá gà được ăn thua bằng tiền. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ 04 con gà trống đá, 10 cặp cựa gà bằng sắt, 04 cái giỏ đệm, 01 cây cân, 01 miếng mêca, 01 thùng đựng nước bằng nhựa, 01 tờ giấy có ghi chữ và các con số và các vật chứng có liên quan khác.

Quá trình điều tra chứng minh được: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 02 năm 2021 Nguyễn Phương B sử dụng điện thoại số 0946.675.644 gọi cho Nguyễn Trường K và nói cho K biết B có 02 con gà trống, trong đó có con gà điều lông màu đỏ cân nặng 3,2 kg để K tìm chủ gà nào có số ký bằng với gà của B để đá ăn thua bằng tiền. Khoảng 30 phút sau K điện thoại lại cho B nói với B có gà trống khét có lông màu vàng của K1 (chưa rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) bằng 3,2 kg với gà của B và kêu B đem gà đến nơi K tổ chức đá gà tại khu vực đất trống trong hẻm số xx đường V, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để đá với gà của K1. Sau đó B bắt 02 con gà trống bỏ vào trong giỏ đệm rồi mượn xe mô tô của L (chưa rõ biển số) và điều khiển xe chở theo 02 con gà trống đi đến nhà của Phan Minh T số 175 đường N, khóm B, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng rủ T đi đến nơi K tổ chức đá gà để T thả gà của B ra đá thì T đồng ý. Khi đến B nhìn thấy K và khoảng 10 người có mặt tại nơi đá gà trong đó có K1. Sau đó K cung cấp cân cho B và K1 để cân ký gà, thấy 02 con gà trống đá của B và K1 đồng ký với nhau nên B và K1 thỏa thuận đá xổ với nhau là 2.000.000 đồng, sau đó K cấp cựa gà, băng keo để cho B và K1 gắn cựa sắt vào chân gà, sau khi gắn cựa gà xong thì B đưa gà trống của B cho T giữ, rồi B và K1 thỏa thuận đá hàng xáo thêm 5.000.000 đồng, khi B và K1 thỏa thuận đá thêm hàng xáo thì K đang ở gần đó. Khi gà của B và gà của K1 vừa thả ra để cho đá với nhau thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Nguyễn Trường K là người đứng ra tổ chức việc đá gà ăn thua bằng tiền tại khu vực đất trống trong hẻm số xx đường V, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Khi các chủ có gà trống cần tìm chủ gà trống khác để đá ăn thua bằng tiền thì điện thoại nói cho K biết số cân nặng của gà trống để K hẹn chủ gà có số ký bằng nhau rồi hẹn để đá. Khi đến khu vực tổ chức đá gà thì K sẽ cung cấp cựa gà, băng keo, cân và kính nhựa chắn gà, để cho hai bên chủ gà cân ký, gắn cựa gà để tiến hành thả gà ra đá. Trước khi thả gà ra để đá với nhau thì hai bên chủ gà thỏa thuận với nhau về số tiền đá xổ và đá hàng xáo, khi thỏa thuận xong thì K sẽ cho hai bên thả gà ra đá với nhau.

Kết thúc mỗi trận đá gà nếu con gà của bên nào thắng thì sẽ đưa cho K số tiền 10% trên số tiền đá xổ và 01% trên số tiền đá hàng xáo. Đối với Nguyễn Trường K khi bắt quả tang và tiến hành làm việc K đã thừa nhận tổ chức cho Nguyễn Phương B và người thanh niên tên K1 đá gà với nhau với tiền đá xổ là 2.000.000 đồng và đá hàng xáo là 5.000.000 đồng, lời khai này của K đã được ghi hình có âm thanh. Tại phiên tòa Nguyễn Trường K chỉ thừa nhận tổ chức cho Nguyễn Phương B và người thanh niên tên K1 đá gà với nhau với tổng số tiền đá xổ của hai bên là 2.000.000 đồng.

Cách thức chơi đá gà của Nguyễn Phương B, Nguyễn Trường K, người thanh niên tên K1 và những người khác như sau: nếu chủ gà có gà trống cần để đá thì điện thoại cho K biết để K tìm chủ gà nào có số ký gà bằng với nhau rồi hẹn thời gian để cho hai bên đá gà ăn thua bằng tiền với nhau, khi hai bên chủ gà gặp nhau sẽ tiến hành cân ký gà, gắn cựa vào chân gà của hai bên, sau đó thỏa thuận số tiền đá xổ, đá hàng xáo và ăn thua trực tiếp với nhau, chỉ thỏa thuận bằng miệng chưa đưa tiền. Khi thỏa thuận xong thì hai bên tiến hành thả con gà ra cho đá với nhau, trong lúc hai con gà đang đá với nhau thì hai chủ gà và những người tham gia chơi khác có thể đặt cược với nhau và không hạn chế về số tiền cược; tỷ lệ ăn thua là 01 ăn 01. Kết quả thắng thua được quy định nếu một trong hai con gà đá mà chạy hoặc chết thì con gà còn lại sẽ thắng, chủ gà thắng sẽ được nhận đúng với số tiền mà mình đã đặt cược và một xác gà thua và ngược lại, còn những người chơi khác thì được nhận đúng với số tiền đã đặt cược.

Vào ngày bắt quả tang, số tiền bỏ ra cá cược với nhau như sau: Nguyễn Phương B, người thanh niên tên K1 mỗi bên bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng để đá xổ và đá hàng xáo 5.000.000 đồng. Tổng cộng là 7.000.000 đồng. Riêng đối với Phạm Minh Q, Tôn Minh B, Dương Hồng S, Trần Thái S, Quách Ngọc T, Liêu Thanh P và Tôn Quốc B thì chưa tham gia đặt cược thì bị bắt.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HS-ST ngày 17-11-2022 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Trường K.

Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1, Điều 52; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Phương B.

Căn cứ Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Trường K và Nguyễn Phương B phạm tội “Đánh bạc”.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án được tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2022.

3. Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng của Nguyễn Phương B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng của Nguyễn Trường K.

- Tịch thu tiêu hủy: 10 cặp cựa gà; 10 cuộn băng keo; 01 cây cân; 01 miếng mê ca; 01 thùng đựng nước bằng nhựa; 04 giỏ đệm; 05 cái ghế nhựa màu đỏ loại không có dựa.

- Trả lại cho Nguyễn Phương B: Tiền Việt Nam 708.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đỏ bị bể màng hình. Trả cho Phạm Thanh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; tiền Việt Nam 1.060.000 đồng. Trả lại cho Nguyễn Trường K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave Anpha biển số 83P1-787.xy và 01 xe mô tô nhãn hiệu Metallicstar biển số 65F6-11xy. Trả lại cho Tôn Minh B tiền Việt Nam 20.000.000 đồng.

- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố S: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius biển số 83P2-644.xy;

4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

* Đến ngày 28-11-2022, bị cáo Nguyễn Trường K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo, với các lý do:

- Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, 02 con còn nhỏ (lớn 10 tuổi, nhỏ 09 tuổi), vợ thường xuyên bị bệnh, bản thân thành khẩn khai báo, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự.

- Vai trò là trọng tài, số tiền đánh bạc không lớn chỉ có 7.000.000 đồng (gồm tiền ghi sổ 2.000.000 đồng, tiền đá hàng xáo 5.000.000 đồng); Thu tiền xâu trên số tiền ghi sổ 2.000.000 đồng 10% là 200.000 đồng nhưng chưa thu tiền thì bị công an bắt; Riêng phần đá hàng xáo bên ngoài 5.000.000 đồng bị cáo không biết, do hai bên chủ gà đá với nhau, bị cáo không có thu tiền sâu 1% nhưng bản án sơ thẩm buộc bị cáo chịu trách nhiệm chung là thiệt thòi cho bị cáo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn Trường K giữ nguyên nội dung kháng cáo xin cấp phúc thẩm cho hưởng án treo.

- Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường K cho hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo cho hưởng án treo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường K lập ngày 28-11-2022 và nộp trực tiếp tại trụ sở Tòa án cấp sơ thẩm ngày 28/11/2022 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung theo quy định của các điều 331, 332 và điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường K về việc xin được hưởng án treo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 06-02-2021 tại khu vực đất trống trong hẻm số xx đường V, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Đội Cảnh sát hình sự, Công an thành phố S phối hợp với Công an phường B, thành phố S phát hiện bắt quả tang 10 người gồm: Phạm Minh Q, Tôn Minh B, Dương Hồng S, Trần Thái S, Quách Ngọc T, Liêu Thanh P, Phan Minh T, Tôn Quốc B, Nguyễn Trường K và Nguyễn Phương B đang tham gia đánh bạc với hình thức đá gà được ăn thua bằng tiền. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ 04 con gà trống đá, 10 cặp cựa gà bằng sắt, 04 cái giỏ đệm, 01 cây cân, 01 miếng mêca, 01 thùng đựng nước bằng nhựa, 01 tờ giấy có ghi chữ và các con số và các vật chứng có liên quan khác.

Cho nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Trường K và Nguyễn Phương B phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường K xin được hưởng án treo. Xét thấy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trường K: Bị cáo không tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là đúng pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo trình bày các lý do: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, 02 con còn nhỏ (lớn 10 tuổi, nhỏ 09 tuổi), vợ thường xuyên bị bệnh, bản thân thành khẩn khai báo, mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự. Vai trò là trọng tài, số tiền đánh bạc không lớn chỉ có 7.000.000 đồng (gồm tiền ghi sổ 2.000.000 đồng, tiền đá hàng xáo 5.000.000 đồng); Thu tiền xâu trên số tiền ghi sổ 2.000.000 đồng 10% là 200.000 đồng nhưng chưa thu tiền thì bị công an bắt; Riêng phần đá hàng xáo bên ngoài 5.000.000 đồng bị cáo không biết, do hai bên chủ gà đá với nhau, bị cáo không có thu tiền sâu 1% nhưng bản án sơ thẩm buộc tôi chịu trách nhiệm chung là thiệt thòi cho bị cáo. Hiện nay bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu nên đủ điều kiện được hưởng chế định án treo.

Xét thấy, các lý do bị cáo nêu trên cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Tuy nhiên, đối với việc xin được hưởng án treo của bị cáo, thì thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người tổ chức cung cấp cựa gà, giỏ đệm, cây cân và một số vật dụng khác dùng vào việc đá gà cho những khác tham gia đá gà. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để tuyên truyền, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Cho nên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở.

Lời bào chữa của vị luật sư không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Trường K phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trường K. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2022/HS-ST ngày 17-11-2022 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, như sau:

“Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Trường K.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án.”

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Trường K phải chịu 200.000 đồng.

3. Các phần khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị, không nêu trong quyết định này, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ