vanban.org

Bản án 15/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 06 (sáu) cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau để giám sát, giáo dục. Thời hạn chấp hành hình phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HS-PT
Ngày: 07-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Ông Huỳnh Văn Út

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Văn Mil, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo Huỳnh Thanh H và Hồ Tấn Đ do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm 51/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Huỳnh Thanh H, sinh năm 1970 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Khóm 8, phường 7, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Thợ xe hon da; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh Kh (đã chết) và bà Nguyễn Thị C; vợ tên Trần Kim Ph và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

2. Hồ Tấn Đ (tên gọi khác là Ng), sinh năm 1986 tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp S, xã Th, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán phế liệu; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Minh H và bà Danh Thị K; vợ tên Phạm Ngọc B (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Tấn Đ và Huỳnh Thanh H có quen biết và lưu số điện thoại của nhau. Do biết H có tổ chức bán số lô, số đề, nên khoảng 13 giờ 20 phút ngày 06/6/2022 Đ ở nhà thuộc ấp S, xã Th, huyện C, tỉnh Cà Mau sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 12, có gắn số thuê bao 0943.259.625 gọi cho H sử dụng điện thoại OPPO Reno 5, có gắn số thuê bao 0816.388.363 để mua số lô, số đề. Đ mua số lô 29 đài Cà Mau với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua xong H nhắn tin lại cho Đ qua tin nhắn SMS, nội dung “Cm 29c300” để xác nhận đã nhận mua và Đ xác nhận với H bằng chữ “Ok”. Khi có kết quả xổ số đài Cà Mau H xác định Đ đã thua nên khoảng 11 giờ ngày 07/6/2022 H dùng điện thoại nêu trên gọi cho Đ để nhận tiền, Đ hẹn gặp H ngang Xí nghiệp chế biến thủy sản Thạnh Phú thuộc ấp S, xã Th, huyện C chung cho H số tiền 4.500.000 đồng. Số tiền này được tính theo thỏa thuận của H và Đ là tỷ lệ 15, nhận tiền xong H chạy xe về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày hành vi “mua, bán số lô, số đề” của H và Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Nước phát hiện lập biên bản.

Huỳnh Thanh H và Hồ Tấn Đ thỏa thuận cách tính tiền, cách ghi số và cách nhận tiền cụ thể như sau:

- Về cách tính tỷ lệ đài Cà Mau của H với Đ: Tỷ lệ tính tiền bán số lô 02 con được H tính với Đ là 15 lô, không tính 18 lô như xổ số kiến thiết theo đài miền Nam, tức là nếu Đ mua 1.000 đồng loại số lô 02 con thì phải trả cho H số tiền là 15.000 đồng trên một con số lô; nếu có số trúng thì lấy số tiền mua nhân lên 80 lần để trả.

- Về cách ghi số thể hiện như sau: Nếu số lô ghi tên đài đầu tiên rồi đến con số mua, rồi đến chữ “C” sau đó đến số tiền mua, đối với số tiền mua nếu ghi một con số thì tính hàng đơn vị, ghi hai số thì tính hàng chục, ghi ba con số thì tính hàng trăm, ghi bốn con số thì tính hàng triệu.

- Về cách thức thanh toán tiền ăn, thua: H thỏa thuận với Đ sau khi có kết quả xổ số đối trừ ăn, thua thì qua ngày hôm sau mới thanh toán tiền; việc thanh toán tiền bằng hình thức trực tiếp, H trực tiếp đi gom tiền.

- Về cách thức bán số: H dùng điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 có gắn sim di động mạng Vinaphone số thuê bao 0816388363 để thực hiện hành vi bán số lô, số đề. Kết quả đã chứng minh H bán số lô, số đề một ngày 06/6/2022 và chỉ bán cho Đ như sau:

Ngày 06/6/2022 số tiền đánh bạc của Huỳnh Thanh H và Hồ Tấn Đ ở đài Cà Mau thể hiện như sau: Số lô hai con gồm 01 (một) con số 29 mua với số tiền 300.000 đồng; tỷ lệ tính 18 lô (300.000 đồng x 18 lô)= 5.400.000 đồng. Đối cH kết quả xổ số đài Cà Mau ngày 06/6/2022 không có số trúng.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc đài Cà Mau ngày 06/6/2022 của Huỳnh Thanh H và Hồ Tấn Đ tham gia đánh bạc là 5.400.000 đồng. Đối trừ thắng thua H thu lợi bất chính số tiền 5.400.000 đồng, Đ đã thanh toán cho H số tiền 4.500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2022/HS-ST ngày 06/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt mỗi bị cáo 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý tiền thu lợi bất chính, vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 14/12/2022, bị cáo Đ kháng cáo xin được hưởng án treo.

- Ngày 16/12/2022, bị cáo H kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của Đ, chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2022/HS-ST ngày 06/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước về phần hình phạt đối với bị cáo H, đề nghị xử phạt bị cáo H hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Lời nói sau cùng của bị cáo H: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được cải tạo không giam giữ. Thu nhập bình quân của bị cáo là khoảng 4,5 triệu đồng/tháng.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Đ: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo. Thu nhập bình quân của bị cáo là khoảng 05 triệu đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: Vào ngày 06/6/2022, Huỳnh Thanh H đã có hành vi bán lô đề cho Hồ Tấn Đ đài Cà Mau một con số 29 với số tiền 300.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 5.400.000 đồng (300.000 đồng x 18 lô). Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã xét xử bị cáo H và Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đánh bạc là trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.

Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo gồm: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính. Từ đó, xử phạt 03 tháng tù (mức hình phạt dưới khung) đối với mỗi bị cáo là có phần nghiêm khắc. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo H kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ và có cung cấp hồ sơ bệnh án thể hiện bị cáo bị bệnh viêm tụy mãn do sỏi ống tụy mới phẫu thuật, đang điều trị lao phổi và đã nộp 900.000 đồng tiền thu lợi bất chính còn lại theo quyết định của cấp sơ thẩm, bị cáo Đ kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên, khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm có thiếu xót khi không xem xét trình độ học vấn thấp của các bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo. Xét tính chất, mức độ, nguyên nhân và điều kiện phạm tội thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, để các bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp, cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

Theo quy định của pháp luật đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ, người chấp hành hình phạt bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Trên cơ sở mức thu nhập trung bình của bị cáo H là 4.500.000 đồng/tháng và của bị cáo Đ là 5.000.000 đồng/tháng, xác định số tiền bị cáo H còn phải chịu khấu trừ 5% thu nhập với số tiền là 225.000 đồng/tháng (4.500.000 đồng x 5%), bị cáo Đ còn phải chịu khấu trừ 5% thu nhập với số tiền là 250.000 đồng/tháng (5.000.000 đồng x 5%).

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa được chấp nhận một phần.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo H đã tự nguyện nộp xong số tiền còn lại cần phải tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quyết định của án sơ thẩm, nên cần phải điều chỉnh lại phần nghĩa vụ của bị cáo cho phù hợp.

Do sửa án sơ thẩm, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2022/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước về phần hình phạt.

2. Về trách nhiệm hình sự:

2.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 06 (sáu) cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau để giám sát, giáo dục. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Trong quá trình chấp hành án, nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo H phải nộp vào ngân sách Nhà nước tiền khấu trừ thu nhập mỗi tháng 225.000 (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

2.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Hồ Tấn Đ 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau để giám sát, giáo dục. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Trong quá trình chấp hành án, nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo Đ phải nộp vào ngân sách Nhà nước tiền khấu trừ thu nhập mỗi tháng 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

3. Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền dùng vào việc đánh bạc là 5.400.000 (năm triệu bốn trăm nghìn) đồng để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ 4.500.000 (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng bị cáo nộp tại Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Nước theo Giấy nộp tiền ngày 19/10/2022 và được khấu trừ 900.000 (chín trăm nghìn) đồng bị cáo nộp trong giai đoạn xét xử phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0002044 ngày 03/3/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước phát hành.

4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2035/UBTVQH14 ngày 30/12/2035 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo H và Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ