- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ - ST Ngày: 14/3/2023. (V/v: Ly hôn, nuôi con chung) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Trần Thị Thanh Nga.
2. Bà: Lê Thị Kiều Thu.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thái Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 758/2022/TLST- HNGĐ ngày 24/11/2022 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐST – HNGĐ ngày 30/01/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2023/QĐST – HNGĐ ngày 24/02/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc A, sinh năm 1983.
- Bị đơn: Ông Ngô Hiếu B, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: khu phố 01, phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 11 năm 2022, bản tự khai ngày 05/12/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Trần Ngọc A trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Ngô Hiếu B tự nguyện tìm hiểu chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 03/5/2012, quyển số 01/2012, số 036/2012. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân hơn một năm nay, mặc dù vợ chồng đã cố gắng ngồi nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay tình cảm của bà với ông B không còn nữa, hạnh phúc hôn nhân không đạt được, tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Ngô Hiếu B.
Về con chung: có 1 con chung tên Ngô Trần Vịnh Quân, sinh ngày 21/4/2012, bà yêu cầu nuôi con, yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 4.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà Trần Ngọc A trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Ngô Hiếu B vì vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay nên không còn tình cảm nữa. Về con chung, bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
*Bị đơn ông Ngô Hiếu B có nơi cư trú tại khu phố 01, phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Ông B có đến toà để nhận thông báo thụ lý vụ án nhưng sau đó không đến toà nữa, do vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng như: “thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa” theo quy định của Luật tố tụng dân sự.
Tại phiên Tòa vắng mặt ông Ngô Hiếu B.
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung giao con cho bà A nuôi dưỡng, bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung bà A không yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Tại phiên tòa do bị đơn vắng mặt nên nguyên đơn không tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền giải quyết vụ án, phía bị đơn ông Ngô Hiếu B có nơi cư trú tại khu phố 01, phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc A về việc“Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Tại phiên tòa hôm nay ông Ngô Hiếu B vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung khởi kiện:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Ngọc A và ông Ngô Hiếu B là hợp pháp vì ông bà chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 03/5/2012, số 036/2012, quyển số 01/2012. Theo bà A cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, khoảng hơn một năm nay mâu thuẫn phát sinh trầm trọng nên ông bà tự sống ly thân cho đến nay. Theo biên bản xác minh tại địa phương cho biết ông B vẫn còn cư trú tại địa phương nhưng thường xuyên vắng nhà, mặc dù được địa phương thông báo cho ông biết về việc Toà án giao các văn bản tố tụng nhưng ông B không nhận giấy tờ và không đến toà. Qua đây, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B thật sự là có mâu thuẫn xảy ra và mặc dù ông B biết được bà A làm đơn xin ly hôn với ông nhưng ông B vẫn bỏ mặc không quan tâm đến, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chính vì vậy đã làm cho cuộc hôn nhân của ông bà ngày càng lâm vào tình trạng trầm trọng hơn nữa, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Ông B đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa nhưng tại phiên toà hôm nay vẫn vắng mặt ông B, chứng tỏ ông B đã khước từ quyền tham gia tố tụng của mình nên việc xét xử vắng mặt ông B là phù hợp, đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng cho bà A.
Từ những nhận định trên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Ngọc A.
Về con chung: có 1 con chung tên Ngô Trần Vịnh Quân, sinh ngày 21/4/2012. Nay ly hôn, bà A yêu cầu được nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Quân đang ở với mẹ có cuộc sống ổn định và nguyện vọng cháu Quân muốn được ở với mẹ nên tiếp tục giao cháu Quân cho bà A nuôi dưỡng là có cơ sở. Đối với cấp dưỡng nuôi con bà A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: bà A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc A.
-Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Ngọc A được ly hôn với ông Ngô Hiếu B.
-Về con chung: giao con Ngô Trần Vịnh Quân, sinh ngày 21/4/2012 cho bà Trần Ngọc A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Ông B có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
-Về tài sản chung và nợ chung: bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3/Về án phí: Bà Trần Ngọc A nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Bà A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0013934 ngày 23/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan Thiết, được chuyển thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/3/2022). Quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Phan Thiết; - Chi cục THADS TP. Phan Thiết; - UBND phường C, tp. Phan Thiết, Bình Thuận; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa VŨ THỊ THU HÀ |