vanban.org

Bản án 15/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Các con chung Nguyễn Thị Thu H1 - sinh ngày 01 tháng 11 năm 1997, Nguyễn Thị Thu H2 - sinh ngày 18 tháng 6 năm 1999, Nguyễn Thanh H3 - sinh ngày 22 tháng 9 năm 2002 đã đủ 18 (mười tám) tuổi nên chị Đoàn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VN
TỈNH KH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST
Ngày 17 tháng 5 năm 2023
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VN - TỈNH KH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ

- Các Hội thẩm nhân dân:

. Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo

. Bà Vũ Thị Kim Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VN, tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 262/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị P - sinh năm: 1978; trú tại: Thôn BL 2, xã VB, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H - sinh năm: 1974; trú tại: Thôn BL 2, xã VB, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 04 tháng 11 năm 2022, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16 tháng 12 năm 2022 và ngày 28 tháng 02 năm 2023, nguyên đơn chị Đoàn Thị P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị P và anh Nguyễn Thanh H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 13 tháng 01 năm 1997 tại Ủy ban nhân dân xã VB, huyện VN, tỉnh KH theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, bản thân anh H cũng không quan tâm chăm sóc gia đình nên giữa vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Chị P đã nhiều lần khuyên bảo anh H để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn ngày càng gay gắt. Từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 04 (bốn) con chung là Nguyễn Thị Thu H1 - sinh ngày 01/11/1997, Nguyễn Thị Thu H2 - sinh ngày 18/6/1999, Nguyễn Thanh H3 - sinh ngày 22/9/2002 và Nguyễn Nhật K - sinh ngày 10/4/2010. Hiện nay các con chung Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Thanh H3 đã đủ 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị P yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Nhật K cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Thanh H để trình bày ý kiến về việc chị P khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh H đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của anh H, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VN phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đoàn Thị P yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh H - trú tại: Thôn BL 2, xã VB, huyện VN, tỉnh KH nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH. Nguyên đơn chị Đoàn Thị P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được Tòa án nhân dân huyện VN triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Đoàn Thị P và anh Nguyễn Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng căn cứ vào lời khai của chị P và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa chị P và anh H là tự nguyện, đăng ký kết hôn số 51, ngày 13 tháng 01 năm 1997 tại Ủy ban nhân dân xã VB, huyện VN, tỉnh KH, nên quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh H là hợp pháp.

Căn cứ lời khai của chị P thì vợ chồng chị hiện nay không còn sống chung, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng anh H đều không có mặt, chứng tỏ anh H không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị P và anh H theo chị P trình bày là do anh H không quan tâm chăm sóc gia đình; vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau. Từ đầu năm 2022 cho đến nay, vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa hai người đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị P yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị Thảo.

Về con chung: Chị Đoàn Thị P và anh Nguyễn Thanh H có 04 (bốn) con chung là Nguyễn Thị Thu H1 - sinh ngày 01/11/1997, Nguyễn Thị Thu H2 - sinh ngày 18/6/1999, Nguyễn Thanh H3 - sinh ngày 22/9/2002 và Nguyễn Nhật K - sinh ngày 10/4/2010. Hiện nay các con chung Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Thu H2 và Nguyễn Thanh H3 đã đủ 18 tuổi nên chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị P yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Nhật K cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy: Con chung Nguyễn Nhật K hiện đang do chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu K có nguyện vọng được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy việc giao cho chị P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Nhật K là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị P. Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Chị Đoàn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét

Về nợ chung: Chị Đoàn Thị P xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh H mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh H.

Về án phí: Chị Đoàn Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Đoàn Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

2. Về con chung:

Các con chung Nguyễn Thị Thu H1 - sinh ngày 01 tháng 11 năm 1997, Nguyễn Thị Thu H2 - sinh ngày 18 tháng 6 năm 1999, Nguyễn Thanh H3 - sinh ngày 22 tháng 9 năm 2002 đã đủ 18 (mười tám) tuổi nên chị Đoàn Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Giao con chung Nguyễn Nhật K - sinh ngày 10 tháng 4 năm 2010 cho chị Đoàn Thị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 (mười tám) tuổi.

Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị P, anh H có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đoàn Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003670 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VN; chị P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.

* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ