- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Mai Thi L xin ly hôn anh Trần Văn D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị L, cho chị Mai Thị L được ly hôn anh Trần Văn D .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2023/HNGĐ-ST Ngày 23/03/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quản
Ông Trần Văn Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Hiền - KSV.
Ngày 23 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 249/2022/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2023/QĐST - HNGĐ ngày 23/02/2023, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Mai Thị L - sinh năm 1986
Địa chỉ: thôn 9, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
*Bị đơn: Anh Trần Văn D - sinh năm 1982
Địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện N, Thanh Hóa.
Tại phiên tòa vắng mặt chị L, anh D (chị L có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 11/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Mai Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn D tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân được UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 01/3/2005. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, việc nuôi dạy con cái và việc gia đình, anh D không quan tâm đến gia đình vợ con nên tháng 3/2006 chị đã về nhà mẹ đẻ ở thôn 9, xã N, huyện N sinh sống. Vợ chồng sống ly thân, sau đó anh D có đề nghị chị quay lại để chung sống nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì lại xảy ra mâu thuẫn nặng nề. Nay chị L xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn D.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung, là Trần Đức A, sinh ngày 10/01/2006, hiện tại cháu đang ở với chị L.Sau ly hôn chị L xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đức A và chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, anh D biết được chị L khởi kiện xin ly hôn anh ra Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác minh nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX,Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
-Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị L, cho chị L được ly hôn anh Trần Văn D.
Về con: Giao cháu Trần Đức A sinh ngày 10/01/2006 cho chị Mai Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Mai Thị L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Trần Văn D. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã đến tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn D biết việc chị Mai Thị L xin ly hôn anh nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh D vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 23/02/2023 Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh D vắng mặt không có lý do nên phải hoãn Phiên tòa. Như vậy việc anh D không đến Tòa án để giải quyết vụ án là trường hợp cố tình trốn tránh. Tại phiên tòa hôm nay chị L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt lần thứ hai nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh D.
Về hôn nhân: Chị Mai Thị L và anh Trần Văn D kết hôn ngày 01/3/2005, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, cách nuôi dạy con, anh D không quan tâm đến vợ con nên tháng 3/2006 chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn 9, xã N, huyện N để sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân anh D có đề nghị chị L quay lại để chung sống nhưng chỉ được một thời gian ngắn thì lại xảy ra mâu thuẫn nặng nề và sau đó chị L lại về sinh sống với mẹ đẻ ở thôn 9, xã N, kể từ đó chị L và anh D sống ly thân không còn quan tâm đến nhau.
Tại biên bản xác minh ngày 29/11/2022 trưởng thôn Đ, xã N, huyện N cho biết: Mâu thuẫn vợ chồng chị L, anh D thực sự thế nào bà không biết rõ, tuy nhiên thì thấy chị L sống cùng anh D được khoảng thời gian hơn 1 năm thì chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, thỉnh thoảng cũng thấy chị L đưa con về thăm gia đình bên nội. Còn anh D đi làm ăn xa thỉnh thoảng về nhà, thời gian gần đây anh D làm gần nhà.
HĐXX xét thấy: Cuộc sống hôn nhân của chị L và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị L được ly hôn anh D là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị L và anh D có 01 con chung là Trần Đức A, sinh ngày 10/01/2006, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đức A.
HĐXX xét thấy: Yêu cầu về nuôi con là quyền và nghĩa vụ của bố, mẹ là ngang nhau, nhưng từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, anh D không có mặt tại Tòa án nên không biết được quan điểm của anh D về việc chị L yêu cầu. Từ khi chị L và anh D sống ly thân nhau đến nay cháu Đức A ở với chị L; Cũng tại biên bản xác minh ngày 29/11/2022 trưởng thôn Đ, xã N cũng cho biết: Chị L và anh D có một con chung là cháu Đức A sinh năm 2006 hiện tại cháu đã lớn và ở với chị L. Hơn nữa nguyện vọng của cháu Đ: Nếu bố mẹ ly hôn cháu xin ở với mẹ vì mẹ nuôi dưỡng cháu từ khi đẻ ra, khi cháu được 3 tháng thì bố đi làm ăn và đi luôn, mẹ con cháu ở với nhau nhưng bố không cấp dưỡng nuôi cháu, đến bây giờ cháu đã 17 tuổi rồi. Do vậy, nên xử giao cháu Đức A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn.
Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên miễn xét.
Về tài sản: Chị L và anh D không có tài sản chung nên miễn xét.
Về án phí: Chị Mai Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị L, cho chị Mai Thị L được ly hôn anh Trần Văn D .
Về con: Giao cháu Trần Đức A, sinh ngày 10/01/2006 cho chị Mai Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh D có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Mai Thị L phải nộp án phí DSST về việc ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí DSST đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0015117 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn. Chị Mai Thị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị L, anh D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - UBND xã N; - Phòng GĐ-KT Toà án tỉnh; - Lưu: VP, HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Tạ Văn Tuyển |